Vào nội dung chính
Tạp chí kinh tế

Trung Quốc và thách thức thay đổi mô hình kinh tế

Phần âm thanh 18:34
Công trường xây dựng một trung tâm tài chính tại Thượng Hải  ngày 12/11/2012.
Công trường xây dựng một trung tâm tài chính tại Thượng Hải ngày 12/11/2012. REUTERS/Aly Song

Duy trì ổn định xã hội và xây dựng mô hình kinh tế lấy tiêu thụ nội địa làm động lực tăng trưởng : đó là thách thức lớn chờ đợi ban lãnh đạo mới của Trung Quốc. Bài toán càng nan giải khi các nhà cầm quyền bị hệ thống chính trị bó tay.

Quảng cáo

Trong bài diễn văn khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18, ngày 08/11/2012 chủ tịch Hồ Cẩm Đào đề ra mục tiêu cho thế hệ lãnh đạo kế tiếp nhân thu nhập bình quân đầu người lên gấp đôi từ nay cho đến năm 2020. Mục tiêu đó chỉ có thể hoàn thành với điều kiện trong 8 năm sắp tới, Trung Quốc liên tục duy trì tỷ lệ tăng trưởng trên 10 % như thành tích đã đạt được trong 2 nhiệm kỳ vừa qua dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo. Nhờ thế mà nước đông dân nhất địa cầu đã qua mặt được Anh Quốc, Đức và Nhật Bản để trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới, chỉ thua có Hoa Kỳ. Tuy vậy, nhưng nếu tính theo thu nhập bình quân đầu người, thì Trung Quốc chỉ đứng hàng thứ 121, tương đương với Thái Lan.

Đảng Cộng sản Trung Quốc đang họp đại hội, chuẩn bị đưa một thế hệ lãnh đạo mới lên cầm quyền trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế đang chựng lại. Do tác động của khủng hoảng châu Âu và khó khăn kinh tế toàn cầu, GDP của Trung Quốc trong năm nay không tăng quá 7,5 %. Thành tích này quá kém cỏi để cho phép Bắc Kinh bảo đảm công việc làm cho người dân, tránh gây bất ổn trong xã hội. Bản thân ông Hồ Cẩm Đào nhìn nhận là Trung Quốc cần nhanh chóng thay đổi mô hình kinh tế. Đây là dấu hiệu cho thấy đã đến lúc Bắc Kinh cần xét lại mô hình phát triển vốn dựa vào xuất khẩu, đầu tư quá tải và chính sách tiền tệ quá dễ dãi.

Nhờ lấy xuất khẩu làm chủ đạo mà kinh tế Trung Quốc trong một thập niên qua (2002-2012) đã duy trì tỷ lệ tăng trưởng trung bình là 10 % một năm. Thặng dư cán cân thương mại luôn nghiêng về phía Trung Quốc. Bắc Kinh đang làm chủ một khoản dự trữ ngoại tệ trên 3000 tỷ đô la hơn hẳn cả so với tích lũy của Nhật Bản. Lại cũng Trung Quốc là địa điểm hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bậc nhất của thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc được mệnh danh là « cơ xưởng sản xuất lớn nhất toàn cầu ».  

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu trở thành những đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc. Vấn đề đặt ra là cả ba cột trụ kinh tế toàn cầu đó hiện đang gặp khó khăn, đặc biệt là kể từ sau khủng hoảng 2008-2009, và không còn khả năng tiêu thụ hàng Trung Quốc với nhịp độ như ở vào thời « hoàng kim ».

Ngoại tệ rót vào Trung Quốc trở nên khan hiếm hơn. Trung Quốc vẫn có những lợi thế nhất định, nhưng không còn là nơi có nhân công rẻ so với các nước chậm phát triển hơn. Không có gì chắc chắn là Bắc Kinh bảo đảm được tăng trưởng kinh tế ở ngưỡng 8 %, mức tối thiểu để tạo công việc làm cho đội ngũ lao động quá dồi dào.

Đó là những thực tế mà các nhà lãnh đạo Bắc Kinh thuộc thế hệ 5 – với hai gương mặt nổi bật là các ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường sẽ phải đối mặt.

Bản thân Trung Quốc từ 5 năm nay đã ý thức được điều này và đã tiến hành một loạt các biện pháp cải tổ : nâng cao mãi lực cho người dân, dùng sức tiêu thụ nội địa làm động lực tăng trưởng. Nhiệm vụ đó chưa hoàn thành và sẽ được chuyển giao lại cho thế hệ lãnh đạo kế tiếp.

Thành công hay thất bại của tiến trình cải tổ đó được coi là mang tính định đoạt đối với sự tồn tại của Đảng và Nhà nước Trung Quốc. Tất cả vấn đề đặt ra là liệu hai người đứng đầu guồng máy chính trị Trung Quốc tương lai, các ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, có hoàn thành trọng trách đó hay không.

Hai ngày trước Đại hội Đảng báo Thanh Niên Trung Quốc số đề ngày 06/11/2012 công bố một cuộc thăm dò dư luận được thực hiện qua mạng internet. Theo đó 75,4 % những người được tham khảo ý kiến cho rằng, bất bình đẳng về thu nhập là một mối đe dọa đối với tương lai đất nước. Trong lúc chỉ có 31,3 % quan tâm đến việc tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bị chựng lại.

Trong mắt gần 70 % những người được hỏi, cải thiện hệ thống y tế được coi là một ưu tiên hàng đầu ; 60 % kỳ vọng an toàn thực phẩm được cải thiện và 62,8 % mong muốn hệ thống giáo dục được nâng cấp.

Nhìn lại quá trình điều hành đất nước sau 2 nhiệm kỳ sắp khép lại của cặp bài trùng Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, thuộc thế hệ lãnh đạo thứ 4 của Trung Quốc, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa từ Hoa Kỳ không phủ nhận những thành tựu đã đạt được cho dù cách biệt giàu nghèo và những bất công quá lớn là một hiểm họa đe dọa trực tiếp đến ổn định xã hội của một quốc gia với gần 1,5 tỷ dân.

Nguyên Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng có, ở hai mặt chìm và nổi, với cái vị chua ngọt, mà chua nhiều hơn ngọt, thậm chí hơi đắng. Năm 2002 là khi ông Hồ Cẩm Đào lên làm Tổng bí thư rồi Chủ tịch Nhà nước, tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc được ước tính là 1 450 tỷ đô la, tương đương với của Anh Quốc. Tính theo đầu người thì lợi tức một người dân Trung Quốc là khoảng 1 100 đô la. Mười năm sau, với đà tăng trưởng trung bình là 10% một năm, Trung Quốc lần lượt vượt qua kinh tế Anh, Đức, Nhật. Thế hệ thể tư để lại một nền kinh tế có tổng sản lượng khoảng 7 400 tỷ đô la. Trung Quốc là nền kinh tế hàng thứ nhì thế giới, với GDP cao gấp năm lần so với di  sản họ nhận lãnh được từ thế hệ Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Chu Dung Cơ. Tính trung bình thì mỗi người dân đã thấy lợi tức từ 1 100 đô ma lên tới 5 400 đô la. Đó là mặt nổi và có vẻ ngọt ngào của di sản kinh tế đang được bàn giao. 

Cái mặt chìm là mấy con số vừa nói chỉ là bình quân và không phản ảnh những dị biệt rất lớn ở bên trong. Các nước tân hưng Đông Á đều có thể đạt mức tăng trưởng rất cao vào giai đoạn khởi phát hay cất cánh. Nhưng không quốc gia nào lại có mức dị biệt hay tỷ lệ bất công cao như ở Trung Quốc. Khi Hồ Cẩm Đào rồi Ôn Gia Bảo cùng nói rằng kinh tế Trung Quốc thiếu công bằng, thiếu cân đối, không phối hợp và không bền vững, họ đều ý thức được sự khác biệt lợi tức quá lớn giữa các thành phần dân chúng và các địa phương. Mà khác với ngày xưa, ngày nay, người dân đã có thông tin và ý thức được sự khác biệt và bất công đó nên đã phản ứng.

RFI: Đấy là cái phần chua của vị chua ngọt. Nhưng anh còn nói đến vị đắng. Xin anh trình bày cho một số ví dụ cụ thể.

Nguyên Xuân Nghĩa: Vì địa dư hình thể, lãnh thổ bát ngát của Trung Quốc có ba khu vực khác nhau. Miền Đông ở vùng duyên hải gồm có 15 tỉnh thì tương đối trù phú. Miền Tây là 11 tỉnh và khu tự trị hành chính của các sắc dân thiểu số thì nghèo hơn nhiều. Khu vực thứ ba là vùng phiên trấn hoang vu từ Tứ Xuyên lên Cao nguyên Thanh-Tạng, Tân Cương, Nội Mông và ba tỉnh Đông Bắc thuộc đất Mãn Châu cũ thì còn nghèo khốn và lạc hậu hơn vậy. Chiến lược Đặng Tiểu Bình đã giúp các tỉnh miền Đông phát triển mạnh nhất vì hướng ra ngoài, nhưng lại bỏ quên các tỉnh ở bên trong.

Năm 1999, thế hệ lãnh đạo thứ ba là Chủ tịch Giang Trạch Dân và thủ tướng Chu Dung Cơ đã muốn điều chỉnh đó với kế hoạch "Phát triển Địa khu Tây bộ" nhằm gia tăng đầu tư vào sáu tỉnh và năm khu tự trị hành chánh bị khóa trong lục địa ở miền Tây mà không thành. Sau năm 2002, thế hệ thứ tư cũng đòi khôi phục ba tỉnh Đông Bắc và một phần của Nội Mông trong kế hoạch gọi là "Chấn Hưng Đông Bắc Lão Công Nghiệp Cơ Địa", rồi kế hoạch phát triển sáu tỉnh thuộc khu vực Trung bộ gọi là "Trung Bộ Quật Khởi Kế Hoạch", mà cũng không xong. 

Tình trạng bất công và không cân đối khiến Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đều nói đến yêu cầu chuyển hướng từ « lượng » sang « phẩm » và cải cách cơ chế cho linh động hơn. Họ trù tính như vậy từ sau Đại hội 17 vào năm 2007 mà cũng thất bại.

RFI : Thưa anh vì sao lại thất bại khi mà trong giai đoạn ấy kinh tế Trung Quốc đã qua mặt nước Đức rồi nước Nhật ?

Nguyên Xuân Nghĩa: Trung Quốc dự tính là không tìm tốc độ tăng trưởng cao cỡ 9-10% mà nhắm vào phẩm chất của tăng trưởng để điều chỉnh những khác biệt chúng ta vừa nói. Nhưng, nhiều đảng bộ địa phương lại vẫn muốn tăng trưởng bằng mọi giá và cản trở chính sách này. Đã vậy, vụ khủng hoảng tài chính và suy trầm toàn cầu năm 2008-2009 khiến Bắc Kinh lo sợ rằng sản xuất sút giảm vì thị trường xuất cảng suy sụp và nạn thất nghiệp gia tăng sẽ gây ra động loạn. Vì vậy, tháng 11 năm 2008, Bắc Kinh ào ạt tăng chi ngân sách và bơm thêm tín dụng qua hệ thống ngân hàng để kích thích kinh tế. 

Kết quả là kinh tế có tăng trưởng thật và vượt qua Nhật Bản vào năm 2010. Nhưng hệ quả là một lượng tín dụng khổng lồ, tương đương với mấy ngàn tỷ đô la, được bơm vào kinh tế, qua doanh nghiệp nhà nước và các cơ sở kinh doanh có quan hệ tốt với viên chức địa phương, đã thổi lên bong bóng đầu cơ về địa ốc và thương phẩm. 

Một hậu quả khác là các địa phương thực hiện nhiều dự án có giá trị kinh tế rất thấp mà vẫn được ngân sách tài trợ, miễn là tạo ra công ăn việc làm. Khi đã hết ngân sách thì các chính quyền địa phương lập ra công ty đầu tư của địa phương để vay tiền ngân hàng của nhà nước ở địa phương nên đã chất lên một núi nợ cực lớn. Mà lớn chừng nào thì không ai biết, kể từ Ngân hàng Trung ương đến các cơ quan quản lý của nhà nước. Nghĩa là Trung Quốc đang có một núi nợ vĩ đại có thể sụp đổ bất cứ lúc nào với hậu quả còn nguy ngập hơn những gì đã thấy tại Nhật Bản từ hơn hai chục năm trước, rồi Âu Châu và Hoa Kỳ như người ta đã thấy từ bốn năm qua.

RFI : Dù sao thì Trung Quốc cũng nắm trong tay một khoản dự trữ ngoại tệ trị giá hơn ba ngàn tỷ đô la mà một phần ba là công khố phiếu của Mỹ, tức là họ đang là một chủ nợ của Hoa Kỳ. Thế thì di sản kinh tế này là mạnh hay yếu?

Nguyên Xuân Nghĩa : Chúng ta có nhiều cách nhìn và đánh giá cái sức mạnh biểu kiến này. Thứ nhất, so với cái núi nợ vĩ đại có thể lên tới hơn phân nửa và thậm chí 75% của tổng sản lượng, tức là gần năm ngàn tỷ đô la thì hơn ba ngàn tỷ dự trữ sẽ không đủ chuộc nợ khi núi lở. Thứ hai, trong luồng giao dịch tài chính với bên ngoài, tính đến tháng 6/2012 Trung Quốc đạt mức thặng dư tương đương với khoảng 1 750 tỷ đô la. Tức là kết số của tài sản họ đầu tư ra ngoài khấu trừ phần đầu tư của ngoại quốc vào thị trường của họ.

Nhưng khi đầu tư ra ngoài, như mua công khố phiếu để làm chủ nợ của Mỹ, thì họ được một phân lời rất thấp trong khi phải trả một mức doanh lợi rất cao cho nguồn đầu tư của nước ngoài vào thị trường Trung Quốc. Nhìn vào tương quan trao đổi bất cân xứng ấy, Trung Quốc vẫn là một xứ lạc hậu chứ không mạnh như người ta tưởng. Sau cùng, cũng phải nói rằng trong hoàn cảnh hiện tại, với nguy cơ đình trệ toàn cầu, kinh tế Trung Quốc khó đạt mức tăng trưởng trên 8% là số tối thiểu cần thiết để tránh động loạn.

 RFI : Để kết luận, anh cho rằng di sản kinh tế mà thế hệ lãnh đạo thứ năm sẽ tiếp nhận sau này thật ra chẳng có gì là sáng sủa, có phải như vậy không ?

Nguyên Xuân Nghĩa : Tôi nghĩ rằng di sản đó không sáng sủa mà cực kỳ đen tối. Đấy không là một di sản kinh tế mà là một di sản chính trị, một hệ thống chính trị không cho phép chuyển hướng và cải cách dù lãnh đạo đã thấy ra vấn đề từ cả chục năm trước.

RFI : Xin cảm ơn chuyên gia Nguyên Xuân Nghĩa.

Nhà sử học chuyên nghiên cứu về Trung Quốc nổi tiếng của Pháp, giáo sư François Godement từng ví guồng máy lãnh đạo của Bắc Kinh như một chiếc « hộp đen » : hiện tại, ngoài hai ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cương, chắc chắn là sẽ tham gia Ban thường vụ bộ chính trị, 5 hoặc 7 ghế khác trong tổ chức này chưa biết sẽ về tay ai. Theo những nguồn tin mới nhất có khả năng phe cải cách sẽ bị lép vế.

Vài giờ trước khi Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc khép lại, một số các nhà quan sát của phương Tây cho rằng đại hội lần này diễn ra vào thời điểm nhu cầu cải tổ cả về phương diện chính trị lẫn kinh tế đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Không phải tình cờ mà tuần trước, Hoàn Cầu Thời Báo công bố một cuộc thăm dò dư luận theo đó, 81,4 % người được hỏi mong muốn Bắc Kinh cải tổ guồng máy chính trị, cho dù là có đến 69,7 % muốn sự thay đổi đó phải được thực hiện từng bước.

 
 

 

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

Không tìm thấy trang

Nội dung bạn đang cố truy cập không tồn tại hoặc không còn khả dụng.