Vào nội dung chính
Tạp chí tiêu điểm

Đồng Bằng Cửu Long đối phó với nước biển dâng cao

Phần âm thanh 15:44
Một cảnh thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (DR)
Một cảnh thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (DR)

Các quốc gia hạ lưu Mekong, bao gồm châu thổ Đồng Bằng Cửu Long Việt Nam (ĐBCLVN) nằm trong khu nhiệt đới, có nền kinh tế nông nghiệp nhưng vì năng suất của các loại hoa màu bị chi phối bởi nhiệt độ và độ ẩm, vì thế bị ảnh hưởng trầm trọng khi nhiệt độ không khí gia tăng và lượng mưa thay đổi. Ngoài ra ĐBCLVN là vùng đất thấp, có độ cao trung bình + 2,0m so với mặt biển, vì thế sẽ gánh thêm những hệ lụy của nước biển dâng cao.

Quảng cáo

Nói đến tác động của mực nước biển dâng cao (MNBDC) thì có 6 lãnh vực bị ảnh hưởng: diện tích đất đai, dân số, tổng sản lượng quốc gia GDP, đô thị, nông nghiệp và vùng đất ngập nước. Việt Nam đứng đầu trong 4 lãnh vực và đứng nhì trong 2 lãnh vực còn lại.

Theo báo cáo của chương trình “Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc” (UNDP, 2007 - 2008) Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi BĐKH và ĐBCL (Việt Nam), châu thổ sông Nile (Ai Cập) và châu thổ sông Ganges/Brahmaputra (Bangladesh) là 3 khu vực chịu những tác động nặng nề nhất của MNBDC. Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007) dự đoán mực nước biển của toàn cầu sẽ dâng cao 1 - 2m vào cuối thế kỷ.

Trong một nghiên cứu khác của Ngân hàng Thế giới về những tác động của MNBDC trên các quốc gia đang phát triển qua 3 kịch bản 1.0, 3.0 và 5.0 m, đối với châu thổ ĐBCL mực nước biển dâng cao từ 1-3m được xem như gần với thực tế.

ĐBCL là vựa lúa của Việt Nam hàng năm cung cấp trên 20 triệu tấn gạo, đóng góp 48% tổng sản lượng lương thực của cả nước và 85% sản lượng gạo xuất khẩu, nhưng là vùng đất thấp nên được xem là điểm nóng của BĐKH và MNBDC.

Để bên ngoài những tranh cãi về sinh hoạt của con người và những thay đổi về nhiệt độ của trái đất, những giải pháp khả thi để giảm thiểu phát thải khí nhà kính hay ảnh hưởng của những tiến trình tan chảy các tản băng, chúng ta phải nhìn nhận MNBDC là một hiện thực, xảy ra dọc theo bờ biển của các quốc gia vùng Đông Nam Á.

Qua những theo dõi và đo đạt ở 4 trạm quan trắc của Việt Nam thì mực nước biển của Việt Nam từ nhiều năm qua đã dâng cao với tốc độ 1,75 - 2,56 mm/năm (Tường 2001) và mực nước biển ở vịnh Manila (Philippines) dâng cao 20cm trong khoảng thời gian 1960s -1990s (Perez và công sự, 1996).

Những tổn thất gây ra bởi BĐKH và MNBDC thay đổi tùy theo địa hình của từng địa phương và hoàn cảnh xã hội cùng điều kiện kinh tế của từng quốc gia, nhưng riêng đối với VN và ĐBCL, sẽ rất to lớn nếu không có những biện pháp ứng phó hữu hiệu và kịp thời. RFI phỏng vấn tiến sĩ Huỳnh Long Vân, thuộc Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai & Cửu Long, Úc châu :

RFI : Xin kính chào Tiến sĩ Huỳnh Long. Trước hết xin ông cho biết về những ảnh hưởng của MNBDC trên ĐBCL vào mùa khô (Ngập Triều)?

TS Huỳnh Long Vân: Mực nước của ĐBCL bị chi phối bởi nguồn nước thượng nguồn sông Mekong và thủy triều Biển Đông và vịnh Thái Lan ở phía Tây. Vào mùa khô, lưu lượng sông Mekong sụt giảm đáng kể (# 2000m3/s gần bằng 1/20 của mùa mưa), mực nước sông Mekong xuống thấp khiến nước mặn xâm nhập vào nội điạ. 1.7 triêu ha đất của ĐBCL, tương đương với 45% diện tích đất canh tác, bị nhiễm mặn; vùng ven biển (Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cà Mau, Kiên Giang) bị nước mặn xâm thực trầm trọng do khai thác nước ngầm để canh tác và dùng trong gia đình; đào kinh thủy lợi và xây các đập thủy điện ở thượng nguồn; nước sông Hậu cách Cần Thơ 15km đã có nồng độ muối 10/ 00, so với bình thường độ mặn này phải cách Cần Thơ gần nhứt là 40 - 50km.

Trong tương lai MNBDC sẽ làm cho tình trạng nước mặn xâm thực trở nên tồi tệ hơn. Vùng ngập mặn vĩnh viễn sẽ lấn sâu vào nội địa 25km trong trường hợp nước biển dâng 20cm và 50km ở kịch bản mực nước biển dâng cao 45cm (Cơ quan Quốc tế Quản lý Môi trường - ICEM) và đến năm 2050, khi mực nước biển dâng cao 30cm cuộc sống của hơn 1 triệu cư dân ĐBCL sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi bờ biển bị xói lở và mất đất canh tác, chủ yếu bởi sự sút giảm phù sa của các con sông gây ra bởi các công trình thủy điện thượng nguồn, MNBDC và dông bão gia tăng.

RFI : Còn về tác động của MNBDC trên ĐBCL vào mùa mưa (Ngập Lũ), thưa Tiến sĩ?

TS Huỳnh Long Vân : Hàng năm vào cuối tháng 9 đến giữa tháng 10, lưu lượng sông Mekong tăng vọt đến 40 - 50 ngàn m3/s gây ngập lụt sâu 0.5 – 4,0m, kéo dài 2 - 5 tháng. Lũ ĐBCL do nhiều lực tác động: nước từ thượng nguồn sông Mekong đỗ về, gíó mùa, thủy triều và nước biển dâng cao. Nước biển dâng cao làm giảm độ dốc của dòng chảy những con sông, khiến lũ thoát chậm, ngập lụt sâu và kéo dài hơn bình thường.
Nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2013) cho thấy:

* trong trường hợp mực nước biển dâng 50cm, 34% diện tích ĐBCL sẽ bị ngập, trong đó 17% bị ngập thường xuyên > 0,5m và

* trong kịch bản mực nước biển dâng cao 1,0m, thì 69% diện tích ĐBCL sẽ bị ngập trong đó 41% diện tích sẽ bị ngập sâu > 1,0m và 62% diện tích ĐBCL bị ngập thường xuyên > 0,5m.

Trong trường hợp có lũ lớn như năm 2000 kết hợp với BĐKH, thì:

* 84% diện tích ĐBCL có thể bị ngập sâu > 50cm trong kịch bản NBDC 50cm và 96% trong kịch NBDC 100cm so với hiện trạng là 50% diện tích ĐBCL.

Diện tích ngập nông tăng 1,1 - 1,5 triệu ha.
Diện tích ngập sâu > 1,0m và kéo dài > 1 tháng tăng 0,34 - 1,6 triệu ha.

Những kết quả nghiên cứu khoa học sau đây của hai Nhóm Wassmann và Ziedler cho thấy tác động của MNBDC trên ĐBCL trầm trọng hơn.

Theo nghiên cứu của Nhóm Wassmann: trong truờng hợp mực nước biển dâng cao 20cm tức vào năm 2030 thì phạm vi ngập lụt của đồng bằng Cửu Long vào tháng 8 sẽ mở rộng thêm 15 - 25km hướng về phía biển, ảnh hưởng 69 - 91% của châu thổ và đến 2070 khi mực nước biển dâng cao 45cm thì phạm vi ngập lụt vào tháng 8 sẽ mở rộng thêm 40 - 45km về phiá đông so với hiện nay, làm ngập 86 - 100% đồng bằng Cửu Long.

Hậu quả là năng xuất của vụ lúa Mùa bị suy giảm, gây trở ngại cho thu hoạch vụ Hè Thu và làm chậm trễ lịch xuống giống vụ Đông Xuân. Cũng theo nghiên cứu này: nếu vụ Hè Thu được bắt đầu sớm hơn tức vào giửa tháng 3 năng xuất cũng giảm 8-18%.Tương tư như vậy xuống giống trễ vụ Đông Xuân cũng có thể gặp phải những khó khăn bởi tình trạng mặn xâm nhập sau vào nội địa vào mùa khô.

Kết quả nghiên cứu khác của Zeidler (1997) là một hình ảnh ảm đạm đối với ĐBCL: Trong trường hợp MNBDC 1m, toàn thể châu thổ bị ngập úng hàng năm vào mùa mưa. Vì 78% diện tích ĐBCL dùng trong canh tác nông nghiệp nên tổn thất khi toàn vùng ĐBCL bị ngập hàng năm lên đến khoảng 17 tỷ Mỹ kim (Ericson và cộng sự 2006).

RFI : Riêng về tác động của MNBDC trên các bãi biển Việt Nam?

TS Huỳnh Long Vân : Ngoài hai tác động trên mực nước của ĐBCL, mực nước biển dâng cao sẽ nâng cao độ dốc của một số bãi biển, lớp cây rừng thiên nhiên bao che bờ biển mất dần (bị hủy hoại và di dời đến những nền đất thích hợp), năng lượng và tác động của sóng biển cũng gia tăng khiến bờ biển ĐBCL (Gò Công, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Rạch Giá) bị xói lở khóc liệt hơn, nếu không có những biệp pháp ứng phó kịp thời.

Nói tóm lại nước biển dâng sẽ làm cho ruộng đồng và nguồn nước bị nhiễm mặn; một diện tích rộng lớn hơn của ĐBCL bị ngập úng sâu và trong thời gian kéo dài; diện tích canh tác sẽ bị thu hẹp. Cùng với những tác động tiêu cực khác của BĐKH như gia tăng nhiệt độ, hạn hán, thời tiết cực đoan bất thường, nước biển dâng cao sẽ gây thiệt hai cho lãnh vực nộng nghiệp và hệ sinh thái và theo đó cơ cấu xã hội bị tổn thương.

RFI : Ông có nhận xét thế nào về giải pháp của chính phủ và của người dân ứng phó với MNBDC ?

TS Huỳnh Long Vân : Để ứng phó với những tác động của MNBDC, Bộ Tài nguyên và Môi Trường của CHXHCNVN đã thiết lập kế họach cấp quốc gia, thực hiện qua 3 giai đoạn:

2009-2010: Giai đoạn khởi đầu
2011-2015: Giai đoạn triển khai
2015- : Giai đoạn phát triển
với những giải pháp công trình và phi công trình.

a. Giải pháp công trình

Một cách tổng quát thì trên toàn thể vùng ĐBCL nhiều kế hoạch đã được thực hiện tập trung vào việc củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống đê, kè song, kè biển, hệ thống công trình thủy lợi nhằm điều tiết lũ, ngăn mặn, giử ngọt v.v...Thí dụ: nâng cấp đê biển ở phía Tây Cà Mau, xây dựng công trình cống sông Kiên (Rạch Giá), hệ thống ngăn triều chống ngập ở Bạc Liêu, nâng cấp đê biển, xây dựng đê bao chống ngập úng vùng trũng, xây dựng hệ thống ngăn mặn ở Sóc Trăng.

b. Giải pháp phi công trình

Phát động phong trào vận động dân chúng tham gia bảo vệ môi trường và tài nguyên, uyển chuyển trong sử dụng nguồn nước; xây dựng năng lực nghiên cứu, giám sát BĐKH, dự báo cảnh báo thiên tai; thường xuyên cập nhật, hoàn thiện kịch bản BĐKH và MNBDC cụ thể cho giai đoạn 2030-2050.

* Ngoài ra Viện Thủy Lợi Miền Nam và Việt Nam cũng đã kiến nghị lên chánh phủ CHXHCN VN đề án “Quy họach Thủy lợi ĐBCL” khởi đầu ở 2 vùng thí điểm: Nam Vàm Nao (chống ngập lũ) và Nam Măng Thít (chống ngập triều).

* Về phía người dân, trong nhiều năm qua nông dân ĐBCL đã tự thích ứng với những thay đổi của môi trường như đa dạng hóa hệ thống sản xuất và luân chuyển các vụ mùa ở các vùng đất nhiễm mặn: nuôi tôm vào mùa khô và trồng lúa vào mùa mưa thay vì trồng lúa 3 mùa và bắt đầu sử dụng những giống lúa chịu mặn.

RFI : Theo ông, những bài học cần rút ra từ những biện pháp đối phó đã được thực hiện: ?

TS Huỳnh Long Vân : Những biện pháp ứng phó do chính phủ đề ra và bản năng thích ứng của người dân với những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên là những động thái rất khích lệ. Tuy nhiên hy vọng khi xây dựng những công trình ứng phó với MNBDC giới hữu trách VN rút được những bài học từ các lỗi lầm trong quá khứ như:

* Xây dựng các cống ngăn mặn nhằm “Ngọt hoá Bán đảo Cà Mau”, gây mâu thuẩn về quyền lợi giữa người trồng lúa và kẻ nuôi tôm, làm ô nhiễm môi trường, đe doạ cuộc sống của ngưởi dân trong vùng khiến cư dân nửa đêm đứng ra đập phá các công trình này.

* Đấp đê bao ở vùng Đồng Tháp, Tứ Giác Long Xuyên để làm lúa 3 mùa, gây ra những hậu quả tiêu cực cho môi trường: hệ thống đê bao ngăn lũ làm cho tình trạng ngập úng vào mùa nước lũ trở nên phức tạp hơn: nước ngập cao, thời gian rút chậm, khiến hàng ngàn ha rừng tràm bị chết hàng loạt, và các bờ sông và đường xá bị sạt lở, hư hỏng và hoàn thành những mục tiêu đề ra một cách tốt đẹp.

Nước biển dâng cao tùy thuộc vào những tiến trình vật lý và sinh học, trong đó mức độ tan chảy của các tảng băng địa cực và các lớp nước đá của địa cầu rất khó tiên liệu vì thế dự đoán MNBDC không được chính xác: có thể dâng cao từ 0,5 đến 7,0 m vào năm 2100 nhưng cũng có thể 1- 2 m, con số mà IPCC cho là gần với thực tế.

Hơn thế nữa MNBDC diễn tiến từ từ qua từng thập niên nên thiết nghĩ các kế hoạch nhằm hữu hiệu hoá hệ thống kiểm soát và phân phối nguồn nước cần được tiến hành từng bước, dựa vào kết quả của những chương trình nghiên cứu khoa học sâu rộng; những thay đổi về nhiệt độ, mực nước biển dâng cao cần được liên tục theo dõi, đo đạt để từ đó hoàn chỉnh kịch bản BĐKH đối với ĐBCLVN và xây dựng phương án ứng phó thích hợp và kịp thời.

Lúa gạo và hoa màu ĐBCL đảm bảo lương thực cho cả xứ và BĐKH và MNBDC ảnh hưởng đến năng xuất của châu thổ nên việc nghiên cứu và tìm kiếm các giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chịu đựng thời thiết khắc nghiệt cũng là điều phải quan tâm đến.

Sau cùng chúng ta trân trọng sự hỗ trợ của:

* chánh phủ Liên bang Úc châu qua chương trình CLUES: đánh giá và thích ứng với những ảnh hưởng của BĐKH trên sản xuất nông nghiệp ở ĐBCL; ứng dụng kỹ thuật lai giống sinh học để tân tạo và phát triển các giống lúa chịu mặn.

* chánh phủ Hoa Kỳ qua chương trình “Sáng Kiến Hạ lưu Mekong”, đặc biệt với hệ thống vệ tinh giúp theo dõi và ghi đo mực nước biển vùng ĐBCL.

* và chánh phủ của một số các quốc gia khác như Nhật Bản, Hòa Lan, Na Uy, Đức .v.v.. về các kế hoạch ứng phó với tình trạng sạt lở bờ biển ĐBCL ngày càng trầm trọng gây ra bởi những ảnh hưởng của BĐKH.

RFI : Xin cám ơn Tiến sĩ  Huỳnh Long Vân.

 

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

Không tìm thấy trang

Nội dung bạn đang cố truy cập không tồn tại hoặc không còn khả dụng.