Tạp chí âm nhạc

David Foster - “Bàn tay vàng” trong làng âm nhạc

Phần âm thanh 09:58
Nhà sản xuất tài ba David Foster và vợ Katherine McPhee tham dự bữa tiệc hậu Oscar của tờ Vanity Fair, ngày 09/02/2020, tại Beverly Hills, California, Mỹ.
Nhà sản xuất tài ba David Foster và vợ Katherine McPhee tham dự bữa tiệc hậu Oscar của tờ Vanity Fair, ngày 09/02/2020, tại Beverly Hills, California, Mỹ. © AP - Evan Agostini

David Foster, nhà sản xuất âm nhạc người Canada, luôn được mệnh danh là kiến trúc sư tài ba cho những bản hit lừng lẫy của Micheal Buble, Céline Dion, Andrea Bocelli. Sự nghiệp âm nhạc của Foster thành công trên cả hai khía cạnh: thương mại và nghệ thuật. Sở hữu tới 16 giải Grammy, ông là “bùa hộ mệnh” cho các live concert của các nghệ sĩ lớn.

Quảng cáo

Thương hiệu Foster - Lá bùa hộ mệnh cho các live concert

Phần lớn khán giả chỉ cảm nhận được màn trình diễn xuất sắc của các ngôi sao ca nhạc như Céline Dion, Whitney Houston, Beyonce, Katty Perry. Tuy nhiên, ít người nhận ra thành công của ngôi sao nhạc pop luôn cần tới các “kiến trúc sư” âm nhạc để biên tập, dàn dựng, phối khí. Đó là những nhà sản xuất âm nhạc tài năng mà David Foster là một ví dụ điển hình. Nghệ sĩ sinh năm 1949 là người hùng thầm lặng, hiếm khi cất giọng trong các bản nhạc hit. Ông đã chuyển hóa tiếng hát ngôi sao thành một sản phẩm nghe-nhìn tầm cỡ.

Khởi nghiệp là nhạc công trong nhóm Stranger, David Foster đến Anh sinh sống và biểu diễn phụ trợ cho ngôi sao Chuck Berry ở tuổi 16. Sau khi trở lại Canada và định cư tại Los Angeles, ông thành lập nhóm Skylark và bắt đầu viết nhạc. Bản nhạc Wild Flower (Hoa dại) thành công đánh dấu tên tuổi Foster trong vai trò nhạc sĩ khi lọt vào top 10. Ông khá thành công trong vai trò nhạc sĩ khi cộng tác với nhóm Earth, Wind, Fire. Ca khúc After the love has gone giúp Foster giành giải Grammy đầu tiên năm 1980.

Nhờ sự đa dạng trong các vai trò, Foster gây dựng được thương hiệu cho các chương trình biểu diễn ông sản xuất. Ông là người thích những thử thách mới mẻ và có tố chất kiên trì, học hỏi không ngừng. Chuỗi concert David Foster and Friends từ năm 2008 thành công mỹ mãn khi quy tụ được dàn sao tên tuổi với các bản hit để đời.

Không chỉ thế, ông còn kiến tạo thành công cho chuỗi concert Giáng sinh cho các ngôi sao Rod Stewart, Micheal Buble, Andrea Bocelli. Nhờ vậy, tên tuổi Foster đủ sức hạ gục trái tim người đẹp, ca sĩ Katherine McPhee, kém ông 35 tuổi. Họ kết hôn năm 2019 và sinh hạ một bé trai vào tháng 02/2021. Các ngôi sao và khán giả thường gọi Foster là “Hit Man” (Người kiến tạo bản nhạc thành công) trong làng âm nhạc.

Chuyên gia đọc được thị hiếu khán giả

Đối với Foster, một tác phẩm hay phải có sự mới mẻ trong cách thể hiện và khai thác tối đa thế mạnh của ca sĩ. Foster đọc được thị hiếu khán giả nhờ nhạc cảm vô cùng nhạy bén. Từ một bản gốc nhạc đồng quê buồn và chậm rãi của Dolly Parton, Foster đã pop hóa toàn diện ca khúc cổ điển I will always love you.Ông đẩy được cao trào Whitney Houston thể hiện lên mức tối đa nhưng không mất đi sự ngọt ngào, mãnh liệt. Cái tài của Foster ru ngủ khán giả trong tiềm thức rằng bài hát chỉ đo ni đóng giầy cho một ca sỹ duy nhất.

Trong album soundtrack The bodyguard (Vệ sĩ), ông và người vợ lúc đó, Linda Thompson cùng sáng tác bản hit thành công không khác I have nothing. Đến giờ, chưa có nhà sản xuất nào vượt được phiên bản xuất sắc I will always love you của Foster. Và chưa có nghệ sĩ nào đủ sức gánh được độ khó như Houston trong hai bài đinh nói trên. Chỉ có thể là Foster mới khai thác thế mạnh tối đa của giọng ca đẹp như Houston.

Hơn thế, ông dẫn người nghe khám phá những miền đất mới lạ, hơn là những ký ức nhạc xưa. Bản ghi âm song ca lừng lẫy Unforgettable(1991)do Foster sản xuất đã chinh phục tuyệt đối Hội đồng chấm giải Grammy. Ca khúc đoạt giải Ghi âm của năm, Bài hát của năm nhờ bàn tay vàng của Foster. Album cùng tên của Natalie Cole cũng ẵm luôn giải quan trọng nhất, Album xuất sắc nhất năm 1992. Ca khúc này gắn bó với tên tuổi của Nat King Cole, người cha Natalie Cole khi ông còn sống.

Tại thời điểm năm 1992, hai ngôi sao song ca mà không thu thanh trực tiếp vẫn còn rất mới mẻ. Ý tưởng lạ lẫm của Foster ghi điểm một cách thuyết phục. Lần đầu tiên, một ngôi sao quá cố hòa giọng mượt mà với ca sỹ đương thời trong một tuyệt tác jazz xuất sắc. Foster không chỉ phục hưng lại ánh hào quang của người cha, mà còn tạo bệ phóng cho tiếng hát của cô con gái rượu.

Phổ âm nhạc của Foster khá rộng và phong phú. Ông có thể thỏa sức vẫy vùng trong pop/rock, gospel, jazz, R&B hay cổ điển. Quan trọng hơn cả, Foster biết cách tạo điểm nhấn, nét mới mẻ cho tác phẩm để chào bán nhanh nhất và hấp dẫn nhất với người nghe.

Bậc thầy đào tạo ngôi sao

Ngoài việc sản xuất, David Foster còn biết đến là người khám phá, ươm mầm tài năng cho Josh Groban, Micheal Buble, Jackie Evancho. Trước đó, ông từng góp phần tạo nên thành công vang dội của nhóm nhạc rock Chicago trong thập niên 1980. Đối với Foster, việc phát hiện tài năng không khó. Nhưng để những ngôi sao nảy nở trong tương lai phải có chiến lược bài bản.

Hãy nhìn vào Micheal Buble, Foster chứng minh đó không phải ngôi sao “sớm nở, tối tàn” với một bản hit duy nhất cả cuộc đời như Feeling Good. Chất giọng nam tính và phong lịch lãm của danh ca Canada được Foster đo ni đóng giầy cho những bản nhạc jazz kinh điển. Trong ba album đầu tay của Buble: Micheal Buble (2003), It’s Time (2005), Call Me Irresponsible (2007), gần như không có bài hát mới. Buble được giao vai chính - thợ hát chuyên cover, tập trung  sâu vào nhạc lounge (thư giãn) các bản nhạc xưa.

Chiến lược của Foster hiệu quả để xây dựng thần tượng nhạc jazz, giao thoa với pop. Sức hút nam châm của Buble đem lại diện mạo mới cho jazz, pop, lounge music nhờ sự tiết chế và nắn nót nhẹ nhàng. Khi khán giả bắt đầu quen thuộc gần gũi hơn với Buble, các album sau đó mới tung ra các bài hát mới như Haven’t met you yet, Home. Đến giờ, các album Buble vẫn áp dụng chiến lược ghi điểm của Foster để chinh phục khán giả.

Một ví dụ thành công của Foster là đưa giọng ca tenor truyền cảm Andrea Bocelli đến khán giả Bắc Mỹ. Trước đó, tên tuổi Bocelli đã nổi tiếng khắp nước Ý và châu Âu nhờ bản hit Time to say goodbye song ca với Sarah Brightman năm 1997. Tuy nhiên, đối tượng khán giả Bocelli chủ yếu nằm ở phân khúc nhạc cổ điển. Hơn thế, ông chủ yếu hát tiếng Ý nên độ lan tỏa sẽ hạn chế hơn các ngôi sao hát tiếng Anh. Đơn cử như Céline Dion phải học tiếng Anh, để vươn xa khỏi quê hương Québec để tỏa sáng trên sân khấu Las Vegas.

Khi hợp tác với David Foster, Bocelli cũng chuyển mình khá rõ nét. Từ album Amore (2006), ngôn ngữ âm nhạc vô cùng đa dạng từ Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Ý để phù hợp với môi trường đa văn hóa tại Bắc Mỹ. Số lượng các ca khúc trữ tình thiên hướng pop, latin, jazz lấn lướt nhạc cổ điển. Dường như Foster muốn Bocelli trở nên đường mật, gần gũi với khán giả bằng nhạc trữ tình hơn là nhạc cổ điển. Để khắc phục yếu tố tuổi tác, song ca với các ngôi sao trẻ sẽ có hấp lực mạnh mẽ hơn với chất giọng solo của Bocelli. Các ngôi sao trẻ từng được Foster mời làm việc chung với Bocelli gồm có Ariana Grande, Dua Lipa, Ed Sheeran, Christina Aguilera.Nhờ vậy, các live concert của Bocelli tại New York hay Las Vegas luôn chật kín nhờ bàn tay vàng của Foster.

Hơn ai hết, Foster hiểu rõ để tồn tại môi trường cạnh tranh khốc liệt như Bắc Mỹ cần những yếu tố nào. Gu thẩm mỹ và nhạc cảm được tôi luyện qua rất nhiều vai trò: nhạc sĩ, ca sĩ, chơi piano, nhà sản xuất, phối khí, ban giam khảo truyền hình. Nếu trong điện ảnh người ta luôn nhắc tới “bố già” Clint Eastwood, David Foster xứng đáng gọi là “bố già” có bàn tay vàng trong làng âm nhạc.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí