Tạp chí kinh tế

Quyền lợi kinh tế của Trung Quốc tại Miến Điện

Phần âm thanh 09:23
Ảnh tư liệu : Một đoạn đường tại thủ đô Naypyitaw trong dịp chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm Miến Điện ngày 17/01/2020 .
Ảnh tư liệu : Một đoạn đường tại thủ đô Naypyitaw trong dịp chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm Miến Điện ngày 17/01/2020 . AP - Aung Shine Oo

Sau cuộc đảo chính, nền kinh tế Miến Điện vốn đã bấp bênh, lại càng lệ thuộc vào Trung Quốc : Đây là quan điểm của đa số các nhà phân tích. Riêng với chuyên gia về Đông Nam Á Sophie Boisseau du Rocher thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI, chưa chắc Bắc Kinh thật sự « thoải mái » khi thấy giới tướng lĩnh Miến Điện trở lại cầm quyền.

Quảng cáo

Từ giữa thập niên 1950, đầu những năm 1960 thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã 9 lần công du Miến Điện. Quốc gia Đông Nam Á này là nước đầu tiên ngoài khối Cộng Sản công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa sau thắng lợi của Mao Trạch Đông. Quan tâm của Bắc Kinh với nước láng giềng sát cạnh với hơn 2.000 cây số đường biên giới chung trên bộ không phải là điều mới mẻ.

Từng bước Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế quan trọng nhất của Miến Điện và trong suốt những năm tháng tập đoàn quân sự nước này bị quốc tế trừng phạt, thì Bắc Kinh là điểm tựa duy nhất của giới tướng lĩnh tại Rangoon.

Do vậy Olivier Guillard giám đốc cơ quan tư vấn Crisis24 trên báo Les Echos cho rằng cuộc đảo chính hôm 01/02/2021 không làm Trung Quốc lo ngại bởi mối liện hệ giữa quân đội Miến Điện và Bắc Kinh luôn vững chắc, cho tới khi tập đoàn quân sự bắt đầu chia sẻ quyền lực với chính quyền dân sự của Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ trong tay bà Aung San Suu Kyi.  

Câu hỏi đầu tiên đặt ra là tại sao Trung Quốc lại đặc biệt chiếu cố Miến Điện ? Trả lời RFI Tiếng Việt, chuyên gia về Đông Nam Á, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI, bà Sophie Boisseau du Rocher trước hết nhấn mạnh đến yếu tố địa lý chiến lược của quốc gia là cửa ngõ mở ra Ấn Độ Dương :

Sophie Boisseau du Rocher : « Nhìn một cách tuyệt đối, đầu tiên là yếu tố địa lý. Miến Điện là bản lề giữa Nam Á và Đông Nam Á, là ngã tư giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, lại nằm ở cửa ngõ eo biển Malaka. Do vậy, Miến Điện đóng một vai trò đặc biệt trên các tuyến giao thông hàng hải. Đó là yếu tố giải thích vì sao Trung Quốc quan tâm đến quốc gia Đông Nam Á này. Ngoài ra còn phải kể đến các nguồn tài nguyên phong phú của Miến Điện từ quặng mỏ đến năng lượng… Tất cả những yếu tố nói trên khiến quốc gia này chiếm một vị trí quan trọng trong tương quan lực lượng của thế giới ».

Là nguồn sản xuất cẩm thạch hàng đầu của thế giới, Miến Điện lại nổi tiếng với những mỏ vàng bạc, đá quý và cả các nguồn dự trữ dầu và khí đốt nên được từ Trung Quốc đến nước láng giềng sát cạnh là Thái Lan hay những đối tác châu Á xa xôi hơn như Ấn Độ, Nhật Bản cùng ve vãn. Tuy nhiên lợi thế vẫn thuộc về Bắc Kinh.

Sophie Boisseau du Rocher : « Trung Quốc từ lâu nay đánh cược vào Miến Điện và trông đợi nhiều vào quốc gia này. Trung Quốc là một trong những đối tác chính về thương mại : nhập 30 % xuất khẩu của Miến Điện và trao đổi thương mại với Trung Quốc chiếm 40 % tổng kim ngạch nhập khẩu của Miến Điện. Về đầu tư cũng vậy. Trung Quốc đứng hàng thứ nhì trong số các nhà đầu tư ngoại quốc vào Miến Điện, chỉ thua có Singapore. Trên thực tế, có nhiều dấu hiệu cho thấy ngay cả vốn đầu tư được cho là của Singapore đổ vào Miến Điện, thật ra là vốn của Trung Quốc. Hạ tầng cơ sở của Miến Điện có phát triển được là nhờ tư bản của Trung Quốc. Miến Điện rất cần vốn của Trung Quốc để phát triển công nghiệp ». 

Vài tuần lễ trước cuộc đảo chính hôm 01/02/2021, ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã công du Miến Điện với hứa hẹn viện trợ 300.000 liều vac-xin chống Covid-19 nhưng chủ yếu, đây là cơ hội để chính khách Trung Quốc này đánh giá tiến độ của khoảng trên dưới 20 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ dự án Con đường tơ lụa mới của Trung Quốc.

Mùa xuân 2020 vào lúc đang rối trí về đại dịch virus corona, Trung Quốc vẫn dành thời gian ký một ngân phiếu 5 tỷ rưỡi euro tài trợ cho nhiều dự án tại nước láng giềng Đông Nam Á này, trong đó có kế hoạch xây dựng một cảng nước sâu, đường xe lửa, một đường ống dẫn dầu và một trung tâm thủy điện …

Tất cả những dự án đó đều thuộc tầm kiểm soát của quân đội cho dù về mặt chính thức, quyền lực tại Miến Điện thuộc về Đảng Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ. Cũng chính vì Bắc Kinh cảm nhận thấy điều gì « không ổn » trên bàn cờ chính trị Miến Điện từ sau cuộc tuyển cử hồi tháng 11/2020 với thắng lợi rõ rệt của đảng trong tay bà Aung San Suu Kyi, nên ngoại trưởng Vương Nghị đã phải sang tận nơi để thăm dò tình hình và nhắc nhở các bên rằng « trong mọi trường hợp », Trung Quốc mong muốn « các dự án đầu tư vẫn phải được tiên triển ».  

Bà Sophie Boisseau du Rocher nhắc lại vai trò then chốt của giới tướng lãnh Miến Điện từ gần sáu thập niên qua :

Sophie Boisseau du Rocher : « Quá hiển nhiên là quân đội điều hành đất nước này từ năm 1962 một cách trực tiếp hay là gián tiếp. Giới tướng lĩnh có một trọng lượng rất lớn cả về kinh tế lẫn chính trị cũng như là an ninh. Tập đoàn quân sự này đóng vai trò then chốt và vì vậy đã ép buộc bà Aung San Suu Kyi phải có những biện pháp thỏa hiệp. Phương Tây không hiểu được điều đó. Thêm một điểm chắc chắn nữa đó là quân đội điều hành đất nước với một bàn tay sắt, dùng những thủ đoạn như là hù dọa, đàn áp thô bạo, giành cho giới tướng lĩnh những đặc quyền đặc lợi … Công luận Miến Điện càng lúc càng chỉ trích gay gắt đường lối lãnh đạo đó. Sẽ thú vị để đợi xem tương quan lực lượng chuyển biến như thế nào. Liệu rằng sức mạnh đường phố có đủ khả năng cưỡng lại cuộc đảo chính của tập đoàn quân sự hay không ? Hay đây là thời cơ để quân đội trở lại nắm quyền và trở lại với mô hình như xưa, tức là lại thâu tóm hết tất cả, nhất là về mặt kinh tế ».

Trả lời báo Les Echos của Pháp hôm 01/02/2021 giảo sư quan hệ quốc tế Htwe Htwe Thein giảng dậy tại đại học Úc Curtin, Perth, nhắc lại : kinh tế Miến Điện đã phát triển mạnh từ khi chính quyền dân sự lên điều hành đất nước. Khu vực tư nhân chiếm một vị trí quan trọng hơn, đầu tư ngoại quốc đã mạnh mẽ đổ vào quốc gia Đông Nam Á này. Dù vậy ảnh hưởng của quân đội vẫn còn rất lớn đặc biệt là qua trung gian hai tập đoàn MEHL và MEC cả hai cùng đặt dưới sự điều hành của quân đội và kiểm soát hàng chục doanh nghiệp khác. Đây là « một trở ngại » đối với các hãng ngoại quốc muốn sang Miến Điện hoạt động.

Vậy tập đoàn quân sự Miến Điện tính sao trong trường hợp bị cộng đồng quốc tế trừng phạt vì đã lật đổ một chế độ do dân bầu ra ? Giáo sư đại học Úc trả lời : giới tướng lĩnh ở Naypyidaw thừa biết rằng, nếu có bị trừng phạt thì dân chúng Miến Điện, những người lao động sẽ là những nạn nhân đầu tiên và ngay cả trường hợp bị phương Tây trừng phạt, Miến Điện vẫn có thể trông cậy vào những nhà đầu tư như Nhật Bản, vốn chưa bao giờ bỏ rơi quốc gia Đông Nam Á này. Ngoài Nhật thì Bắc Kinh vẫn là một điểm tựa chắc chắn của Naypyidaw đó là chưa kể đến các nhà đầu tư Đông Nam Á khác như Malaysia, Thái Lan vẫn sẵn sàng tiếp tục giao thương với Miến Điện.

Chuyên gia Francoise Nicolas cũng thuộc Viện IFRI cho rằng, sau cuộc đảo chính lần này, kinh tế Miến Điện có nguy cơ càng thêm phụ thuộc vào nước láng giềng sát cạnh là Trung Quốc. Về điểm này, nhà nghiên cứu Sophie Boisseau du Rocher thận trọng hơn. Không phủ nhận điểm tựa Trung Quốc nhưng đồng thời bà cho rằng, Bắc Kinh cần Naypyidaw hơn là ở chiều ngược lại :

Sophie Boisseau du Rocher : « Điều khá ngạc nhiên là mặc dù Trung Quốc đóng vai trò hàng đầu tại Miến Điện nhưng về mặt chính trị, thì tập đoàn quân sự Miến Điện từ trước tới nay luôn luôn thận trọng với đối tác quá cồng kềnh này. Một số nhà quan sát có cảm tưởng là trong mắt Bắc Kinh dường như bà Aung San Suu Kyi là một đối tác dễ thuyết phục hơn là giới tướng lĩnh ở Naypyidaw. Hai yếu tố giải thích cho điều này : thứ nhất, người ta nói một cách bóng gió là quân đội Miến Điện « mắc bệnh đao », tức là bị rối loạn thần kinh, không giao lưu, trao đổi gì với ai hết. Điểm thứ nhì là họ mang mặc cảm của những người sống khép kín. Tập đoàn quân sự nước này không cần quan tâm đến Trung Quốc như là Bắc Kinh quan tâm đến Miến Điện.

Chính Bắc Kinh mới cần Miến Điện để thực hiện một số tham vọng chính trị và địa chính trị . Trong mục đích đó Naypyidaw là một mắt xích then chốt. Cũng chính vì vậy mà Trung Quốc đã năng động để can thiệp vào tiến trình hòa giải giữa một bên chính quyền trung ương Miến Điện và bên kia là những sắc tộc thiểu số nhằm vãn hồi hòa bình tại quốc gia Đông Nam Á này. Thực chất của vấn đề là quân đội Miến Điện có thái độ hoài nghi với tất cả mọi người, tất cả mọi đối tác, kể cả với Bắc Kinh. Phải hiểu rằng tập đoàn quân sự tự nhận là có trách nhiệm bảo vệ quốc gia và họ trông thấy những tham vọng quá lớn của Trung Quốc, họ coi Bắc Kinh là một mối đe dọa đối với an ninh và độc lập của Miến Điện. Phải công nhận là Trung Quốc thường hành động vì quyền lợi của chính mình hơn là thiên về giải pháp hợp tác. Naypyidaw đã nhiều lần phải đàm phán lại với Bắc Kinh về các dự án đầu tư của Trung Quốc. Hồi năm 2011 giới tướng lĩnh Miến Điện đã đột ngột ngừng kế hoạch xây đập Myitsone bởi đập thủy điện này đem lại những hậu quả vô cùng to lớn về mặt kinh tế và xã hội đối với Miến Điện nhưng mà từ 80 đến 90 % điện sản xuất ra thì lại được dành để phục vụ Trung Quốc ».

Từ 2017 khi chính quyền Naypyidaw trên danh nghĩa là bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, đã bị quốc tế cô lập vì chính sách đàn áp cộng đồng thiểu số Rohingya theo đạo Hồi thì đó cũng là cơ hội để Trung Quốc đẩy mạnh những nước cờ, nhất là trong khuôn khổ dự án « Một vành đai một con đường ». Có điều ngay cả với nước láng giềng sát cạnh này, Trung Quốc không một mình một chợ.

Sophie Boisseau du Rocher : « Miến Điện được nhiều nước lớn khác trong khu vực quan tâm. Tôi muốn nói đến Ấn Độ và nhất là Nhật Bản. Từ mấy thập niên qua, Tokyo chưa bao giờ ngừng hợp tác với Miến Điện bất chấp chế độ chính trị tại quốc gia này. Từ rất lâu nay ngay cả khi chính trường Miến Điện chao đảo, Nhật Bản vẫn duy trì hợp tác và đầu tư. Đơn giản là do Miến Điện giàu tài nguyên thiên nhiên và cũng là một mắt xích quan trọng trên bàn cờ địa chính trị. Tokyo quan niệm không thể để Miến Điện rơi vào vòng tay của Bắc Kinh như là một số quốc gia Đông Nam Á khác. Vì thế Nhật Bản luôn luôn hiện diện tại hiện trường ».

Chính vì thái độ thân thiện này, Tokyo bị chỉ trích im lặng trước thảm cảnh của hàng trăm ngàn người Rohingya và đã chậm trễ lên tiếng về cuộc đảo chính lần này.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí