Tạp chí Việt Nam

Trung Quốc ngấm ngầm tạo “hiện trạng mới” độc chiếm Biển Đông với Luật Hải cảnh

Phần âm thanh 08:59
Tầu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tầu cá Philippines, ngày 23/09/2015 trong khu vực bãi cạn Scarborough ở Biển Đông. Ảnh minh họa.
Tầu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tầu cá Philippines, ngày 23/09/2015 trong khu vực bãi cạn Scarborough ở Biển Đông. Ảnh minh họa. AP - Renato Etac
Thu Hằng
20 phút

Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc cho phép lực lượng Cảnh sát biển của nước này bắn vào tầu thuyền nước ngoài trong trường hợp tranh chấp, xua đuổi thậm chí là bắt giữ tầu nước ngoài trong vùng biển mà Bắc Kinh tự nhận chủ quyền, như tại biển Hoa Đông và Biển Đông. Đây là hai vùng biển có vị trí chiến lược và giầu nguồn tài nguyên mà Trung Quốc cần để duy trì phát triển kinh tế.

Quảng cáo

Với Luật Hải cảnh có hiệu lực từ ngày 01/02/2021, từ một lực lượng có nhiệm vụ trị an, tìm kiếm cứu nạn, lực lượng Cảnh sát biển giờ trở thành một công cụ hăm dọa của quân đội Trung Quốc, ép các nước láng giềng tuân thủ quy tắc do họ đặt ra nếu không muốn lĩnh hậu quả. Nói một cách khác, Trung Quốc dùng vũ lực để khẳng định là “ông chủ duy nhất” ở các vùng biển có tranh chấp.

“Hiện trạng mới” này sẽ được ngấm ngầm duy trì với Luật Hải cảnh mới, được một nhà nghiên cứu Philippines ví như "quả bom nổ chậm". Đây là “một mối nguy hiểm cho các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc”, theo nhận định của nhà nghiên cứu Pháp Laurent Gédéon, Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời RFI Tiếng Việt.

*****

RFI : Luật Hải cảnh Trung Quốc cho phép Cảnh sát biển Trung Quốc sử dụng vũ lực để bảo vệ chủ quyền. Tại sao luật này được thông qua và có những điểm gì gây lo lắng ?

Laurent Gédéon : Luật này khá mới, được thông qua ngày 22/01/2021 và có hiệu lực từ ngày 01/02/2021. Về mặt chính thức, Bắc Kinh nói rằng Luật Hải cảnh nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh và các quyền hàng hải của Trung Quốc. Theo quan điểm của bộ Ngoại Giao Trung Quốc, luật hoàn toàn phù hợp với các công ước và thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào những gì được nêu trong 84 điều, được chia thành 11 chương, và cho dù luật cố định nghĩa chính xác bộ khung pháp lý can thiệp của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc, thì vấn đề đặt ra là luật này vẫn không nêu rõ đâu là những vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Thực vậy, người ta có thể thấy không gian này được nhắc trong điều 3. Điều này ghi : Luật được áp dụng đối với các hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển và ở phía trong và trên vùng biển nằm trong quyền tài phán của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Nhưng khu vực này lại không được nêu cụ thể.

Điều cần chú ý, đó là qua luật này, Trung Quốc gia tăng áp lực pháp lý, mà trên thực tế đã được đẩy mạnh với việc thông qua một số luật, trong đó có “Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp” năm 1992. Mục đích của những luật này là củng cố tính hợp pháp trên thực địa những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc, kể cả ở Biển Đông, bởi vì luật cũng đề cập rõ đến các đảo và đá ngầm. Đây là điều cần lưu ý !

Cụ thể , điều 12 ghi rằng Cảnh sát biển có thể tiến hành tuần tra để bảo vệ các đảo và đá ngầm và quản lý biên giới trên biển. Vẫn điều 12 quy định rằng lực lượng Cảnh sát biển có thể đưa ra những biện pháp cần thiết để bảo vệ an ninh cho các đảo và đá ngầm, cũng như các đảo nhân tạo và các công trình cơ sở hạ tầng. Điều đáng chú ý ở đây là các đảo nhân tạo nằm ở Biển Đông và không nằm trong vùng biển của Trung Quốc.

Vì thế, có thể thấy là luật này nhắm đến mục đích tăng tính pháp lý cho sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông, làm dày thêm kho tài liệu pháp lý của Trung Quốc về khu vực này và có khả năng dẫn đến thay đổi quyền tài phán liên quan đến Biển Đông được quy định theo luật pháp quốc tế. Chúng ta có thể nghĩ đây là đích ngắm trong trung hạn ẩn sau kế hoạch này.

RFI : Lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc được thành lập trên cơ sở tái cơ cấu Tổng cục Hải dương Quốc gia năm 2013, đến năm 2018 được chuyển từ Tổng cục Hải dương sang Cảnh sát vũ trang Nhân dân và hiện được trang bị vũ khí. Đây có phải là một mối nguy hiểm trong vùng không ?

Laurent Gédéon : Cảnh sát biển Trung Quốc, từng là một nhánh của Tổng cục Hải dương Quốc gia vào năm 2013, hiện nằm dưới sự quản lý của Quân ủy Trung ương do ông Tập Cận Bình làm chủ tịch.

Quy chế của lực lượng này rất mập mờ bởi vì trên thực tế, đây là một lực lượng bán quân sự hơn là một cơ cấu cảnh sát. Nhưng lực lượng này lại không được coi là một phần của Hải Quân Trung Quốc. Và điều này cho phép lực lượng hải cảnh tiến hành những chiến dịch mà nếu do các tầu chiến đảm nhiệm thì có nguy cơ dẫn đến các cuộc đối đầu vũ trang.

Vì vậy việc sử dụng lực lượng này mang mục đích chính trị. Trung Quốc để quy chế mập mờ, nước đôi của lực lượng Cảnh sát biển vì điều đó cho phép Bắc Kinh giữ được thế mạnh trên thực địa mà vẫn tránh được các mâu thuẫn.

Từ những yếu tố trên, tôi cho rằng Cảnh sát biển Trung Quốc là một mối nguy hiểm tiềm tàng cho các nước láng giềng vì nó cho phép Trung Quốc chiếm ưu thế trên thực địa mà vẫn có thể tránh được đối đầu trực diện với các nước trong vùng.

RFI : Như ông nói, quy chế của Hải cảnh Trung Quốc là mập mờ, nước đôi. Lực lượng này còn có khả năng nào khác nhờ luật mới này ?

Laurent Gédéon : Trên nguyên tắc, Hải cảnh Trung Quốc có nhiệm vụ áp dụng luật của Nhà nước trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ. Nhưng phải chú ý rằng với luật mới này, Hải cảnh Trung Quốc có thêm chức năng địa-chính trị mới nhờ vào quyền hạn được trao cho lực lượng này về mặt pháp lý, trong đó có việc được phép can thiệp chống tầu thuyền nước ngoài và sử dụng vũ lực nếu cần thiết.

Cần phải nhắc lại rằng đạo luật này được thông qua trong bối cảnh chung mà chúng ta thấy là ngày càng có nhiều sự cố giữa hải quân Trung Quốc và hải quân nước ngoài, trong đó có cả Hoa Kỳ, cũng như trong bối cảnh rộng hơn, đó là căng thẳng Mỹ-Trung thêm gia tăng mà đỉnh điểm hiện nay là vấn đề Đài Loan.

Những điều khoản liên quan đến tầu thuyền nước ngoài gồm có điều 7, 20 và 21, quy định rằng Cảnh sát biển Trung Quốc có quyền tiến hành các biện pháp cảnh cáo, kiểm tra để bắt giữ tầu quân sự nước ngoài. Họ có quyền bắt các tầu nước ngoài rời khỏi những khu vực hoặc vùng biển có tranh chấp. Họ cũng có quyền sử dụng vũ lực. Việc này được nêu trong các điều 22, 47 và 48. Theo ba điều này, Hải cảnh Trung Quốc được phép sử dụng vũ khí cầm tay, vũ khí được phóng từ tầu và hoặc từ trên không.

Việc sử dụng vũ khí được trang bị trên tầu, hoặc phóng từ trên không cho thấy khả năng sử dụng vũ khí hạng nặng hơn, có tính chất hủy diệt hơn. Qua đó có thể thấy là nhiều loại vũ khí không được trang bị cho Hải cảnh Trung Quốc nhưng lực lượng này lại có thể dùng đến để đối phó hiệu quả hơn với tầu thuyền nước ngoài, trong đó có lực lượng hải quân Mỹ.

RFI : Cụ thể hiện tại lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc được trang bị như thế nào ?

Laurent Gédéon : Cảnh sát biển Trung Quốc là lực lượng Hải cảnh lớn nhất thế giới và có nhiều tầu nhất, từ 400 đến 500 tầu. Hải cảnh Trung Quốc cũng có những con tầu mạnh nhất thế giới trong đội tầu kiểu này. Ví dụ, vào năm 2017 hai con tầu lớn nhất của Hải cảnh thế giới đã được bổ sung vào lực lượng này. Đó là những con tầu có lượng giãn nước tới 12.000 tấn và có tốc độ rất cao.

Người ta cũng nhận thấy là đội tầu Hải cảnh Trung Quốc còn có nhiều tầu thực ra được chuyển từ Hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sang. Có nghĩa là đó là những con tầu chiến được tái bổ sung vào lực lượng Hải cảnh với chức năng được mở rộng, như chúng ta đề cập ở trên, và một số điểm trong phần nhiệm vụ của lực lượng này thực ra phải thuộc về hải quân.

Do đó, chúng ta có thể thấy là chức năng của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc vừa mơ hồ, vừa nhập nhằng, đặc biệt theo những chi tiết trên, thì đó là một đội tầu mang tính quân sự nhiều hơn.

RFI : Việt Nam và ngư dân Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trong vùng, bị lực lượng bán quân sự này đe dọa như thế nào ?

Laurent Gédéon : Một trong những khó khăn cho Việt Nam là ở chỗ thiếu sự rõ ràng trong hành động của Trung Quốc và tính mập mờ trong cách diễn giải về không gian có thể có liên quan đến việc áp dụng Luật Hải cảnh mới này. Vấn đề ở chỗ, tình huống không rõ ràng thì sẽ tăng nguy cơ tính toán sai lầm và như vậy sẽ tăng nguy cơ xảy ra sự cố. 

Ngoài ra còn có một vấn đề khác liên quan đến nội dung trong điều 3 về việc áp dụng luật này ở trong và bên trên vùng biển. Điều này ngụ ý rằng khi làm nhiệm vụ, Hải cảnh Trung Quốc chú ý đến cả không phận phía trên vùng biển. Đây là điểm gây lo ngại về khả năng Bắc Kinh gấp rút thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông. Như vậy, Hải cảnh Trung Quốc có thêm nhiệm vụ áp dụng luật trong khu vực này.

Việt Nam cũng có lý do để lo lắng về nội dung được ghi trong điều 12, theo đó Cảnh sát biển Trung Quốc giám sát, kiểm tra các hoạt động bất kể đó là hoạt động nuôi, khai thác hải sản hay đánh bắt. Dĩ nhiên, đây là điểm gây lo ngại vì chúng ta biết rằng một phần sự cố giữa Trung Quốc và Việt Nam liên quan đến hoạt động của các tầu cá.

Việt Nam hiện phải đối phó với sức ép từ Trung Quốc. Hà Nội có thể phản ứng qua đường ngoại giao bởi vì nhiều nước khác đã lên tiếng phản đối Luật Hải cảnh của Trung Quốc, như Nhật Bản, Philippines, Malaysia. Việt Nam có thể thử theo lập trường của những nước này và cùng đưa ra một lập trường chính thức chung, có thể gây được chú ý trên thế giới và mang tính răn đe đối với Trung Quốc.

Nhưng song song đó, Việt Nam cũng có thể hợp tác với Trung Quốc bằng cách đề xuất tổ chức các cuộc diễn tập chung giữa lực lượng Hải cảnh hai nước theo hướng quản lý và dàn xếp các sự cố hoặc các trường hợp bất ngờ.

RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), Pháp.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí