Vào nội dung chính
Tạp chí văn hóa

Il Divo biểu diễn tại Việt Nam

Phần âm thanh 19:10
Nhóm Il Divo sẽ diễn tại Việt Nam đêm 21/8 (DR)
Nhóm Il Divo sẽ diễn tại Việt Nam đêm 21/8 (DR)
Tuấn Thảo
48 phút

Nổi danh từ 6 năm nay nhờ nối bước bận đàn anh Andrea Bocelli, nhóm Il Divo đã gầy dựng tên tuổi nhờ kết hợp nhạc pop với opera và chuyên ghi âm lại các ca khúc ăn khách. Trên sàn diễn, họ hầu như lúc nào cũng mặc âu phục hiệu Armani. Vào lúc Il Divo chuẩn bị đến Việt Nam biểu diễn lần đầu tiên, đây là dịp để tìm hiểu bí quyết thành công của nhóm này.

Quảng cáo

Il Divo / Vietnam

Ban nhạc Il Divo được mời sang Việt Nam biểu diễn nhân đêm chung kết cuộc thi ‘‘Hoa hậu Thế giới Người Việt 2010’’, tổ chức vào ngày 21/8 tại sân khấu Vinpearl Land ở Nha Trang. Cho tới nay, do ban tổ chức muốn giữ kín nội dung đến giờ phút chót, nên có rất ít thông tin lọt ra bên ngoài về chương trình cụ thể của nhóm cũng như số lượng bài hát mà họ sẽ diễn trên sân khấu. Có lẽ mãi đến chiều ngày 19/8, nhóm này mới cho biết một số chi tiết của đêm diễn, thông qua cuộc họp báo tổ chức ở Sài Gòn.

Tại Việt Nam, nhóm Il Divo có lẽ không còn gì xa lạ đối với giới mê nghe nhạc nước ngoài, yêu thích thể loại pop opera qua các giọng ca như Andrea Bocelli, Sarah Brightman hay Josh Groban. Ban nhạc Il Divo thành hình tại Luân Đôn vào năm 2003, do sáng kiến của nhà sản xuất Simon Cowell, một trong ba giám khảo nổi tiếng của cuộc thi hát truyền hình Thần tượng Âm nhạc nước Mỹ American Idol. Theo lời Simon Cowell, ông đã có ý tưởng thành lập một ban nhạc trẻ hát pop opera khi tình cờ được xem bộ phim truyền hình nhiều tập The Sopranos, trong đó có một đoạn được minh họa bằng ca khúc Con te partiro (Giọng ca tenor người Ý Andrea Bocelli lần đầu tiên hát bài này vào năm 1995 tại liên hoan ca nhạc San Remo).

Nhà sản xuất người Anh Simon Cowell sau đó đã tổ chức một cuộc tuyển lựa các tài năng dựa vào ba yếu tố : hát chuẩn nhiều thứ tiếng, ngoại hình hấp dẫn, chất giọng mượt mà. Kết qủa là trong số hơn 800 giọng ca dự thi, có 4 gương mặt được tuyển lựa. Một ca sĩ nhạc pop, một giọng ca baryton và hai chất giọng tenor.

Thành phần ban nhạc

Trong 4 thành viên, Carlos Marin người Tây Ban Nha là gương mặt dày dặn kinh nghiệm hơn cả. Sinh năm 1968, Carlos lớn lên trong một gia đình nghệ sĩ, ghi âm album đầu tay vào năm 8 tuổi, được đào tạo bài bản từ năm lên 10. Trong thời gian đầu lập nghiệp, Carlos thiên về thể loại ca nhạc kịch nhiều hơn là opera, từng đóng vai chính trong các vở nhạc kịch như Les Misérables, Grease, The Beauty And The Beast, Man From La Mancha. Do các vở opera thuần túy ít có vai chính bằng chất giọng baryton, nên Carlos chỉ hát opera trong các vai phụ, trong các vở như La Traviata , Madamme Butterfly, The Barber of Seville, nhưng lại được giới chuyên nghiệp công nhận như primo baritono, nhờ luyện thanh với các bậc thầy là Montserrat Caballé và Jaume Aragall. Ca khúc sở trường của anh là bài Caruso, nổi tiếng lần đầu tiên nhờ giọng ca Luciano Pavarotti, tác giả Lucio Dalla ban đầu viết bài này ở độ cao của các chất giọng baryton. 

Nhóm Il Divo còn có hai giọng ca tenor là Urs Bühler người Thụy Sĩ và David Miller sinh trưởng tại Hoa K ỳ. Sinh năm 1971 tại Luzern, Urs Bühler học nhạc từ khi lên năm, được đào tạo một thời gian tại Hà Lan, rồi sau đó là học trò của giọng ca tenor người Thụy Điển Gösta Winbergh, thành viên của đoàn kịch opera thủ đô Stockholm. Anh đã nhiều lần tham gia các festival nhạc cổ điển, trong đó có liên hoan thành phố Salzburg ở Áo, và trước khi gia nhập nhóm Il Divo, anh chủ yếu đảm trách các phần độc tấu oratorio trong đoàn Netherlands Opera Gezelschap của Hà Lan. Tuy chuyên về độc tấu, đơn ca nhưng anh lại là người ít có kinh nghiệm ghi âm hơn cả so với các thành viên khác.

Về phần mình, David Miller sinh năm 1973 tại San Diego , lớn lên ở bang Colorado . Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng nghệ thuật Oberlin Conservatory, anh bắt đầu đi hát cho nhiều đoàn kịch opera ở Mỹ, trong đó có đoàn opera của Los Angeles. Nhờ vào âm sắc bản sinh khá mượt mà, mà giọng ca tenor này đã được tuyển vào nhiều vai chính trong các vở opera như Werther, La Traviata, The Magic Flute. Năm anh 25 tuổi, anh nằm trong số các giọng ca opera được mời biểu diễn cho tổng thống Clinton tại Nhà Trắng. Theo giới phê bình, vai diễn xuất sắc nhất của anh là vai Rodolfo trong vở kịch opera La Bohème của Puccini. Vào năm 2002, vở kịch được đạo diễn Baz Luhrmann dựng lại để khai mạc muà kịch tại nhà hát opera ở thành phố Sydney . Trong phiên bản này, Baz Luhrmann nỗ lực hiện đại hóa sân khấu và trang phục nhằm thu hút khán giả trẻ tuổi. Nhờ được đánh giá cao trong vai diễn mà David Miller, tuy là thành viên cuối cùng được tuyển vào nhóm Il Divo nhưng lại là một thành viên chủ chốt.

Trong 4 thành viên của nhóm, Sebastien Izambard, người Pháp sinh năm 1973, có thể được xem như là mắt xích yếu vì anh là gương mặt duy nhất không được đào tạo chính quy trong lãnh vực opera. Anh xuất thân từ làng nhạc nhẹ, chủ yếu sáng tác cho các ca sĩ khác, và từng cho ra mắt một album đầu tay nhưng không thành công. Anh cũng từng xuất hiện trong vở ca nhạc kịch Le Petit Prince của tác giả Richard Cocciante, nhưng vở này không ăn khách bằng Notre Dame de Paris, thời mà Richard Cocciante còn sáng tác chung với Luc Plamondon. Tuy không nặng ký bằng ba thành viên còn lại, nhưng gương mặt thứ tư là người duy nhất biết hoà âm và sáng tác. Il Divo chủ yếu hát cover, nhưng những nguyên tác của nhóm lại do Sebastien Izambard thực hiện, trong đó có bài Je crois en toi, song ca với Celine Dion.

Một khi được hội tụ, nhóm Il Divo tiến thẳng vào việc chinh phục thị trường đĩa nhạc quốc tế. Album đầu tay của nhóm được phát hành vào năm 2004, chiếm hạng đầu tại 13 quốc gia và lọt vào Top Ten, danh sách 10 đĩa hát bán chạy nhất tại 25 nước trên thế giới. Vào thời đó, một trong những thần tượng nhạc trẻ ngự trị trên đỉnh cao là Robbie Wiliams, cựu thành viên của nhóm Take That. Trên thị trường Châu Âu, tập nhạc của anh bị album của nhóm Il Divo đẩy xuống hạng nhì và không có cách nào giành lại được vị trí quán quân. Do vậy, Robbie Wiliams mới thốt lên câu nói đùa rằng : "anh xuất thân từ một nhóm boys band, nào ngờ anh lại bị một nhóm ngây ngô, ngốc nghếch hất chân ra khỏi ngôi vị đầu bảng". Có lẽ cũng từ đó mà cái biệt danh "boys band hát nhạc opera" được gán cho nhóm Il Divo.

Phối bè và phân đoạn

Tính đến nay, nhóm này đã cho ra mắt 5 album và 4 cuộn DVD live. Ăn khách nhất vẫn là tập nhạc đầu tay và album thứ tư, thời kỳ ban nhạc được chọn để trình bày ca khúc chủ đề Thế Vận hội cùng với Toni Braxton. Sau đó, cả nhóm được mời đi hát cùng với Barbra Streisand, trong một vòng lưu diễn gồm 20 đêm diễn. Tính tổng cộng, nhóm này đã bán hơn 25 triệu album trên thế giới, gợi hứng sau đó cho Amaury Vassili người Pháp và nhóm tứ tấu The Canadian Tenors.

Bí quyết ăn khách của Il Divo giống như sự thành công của một số bộ phim được chuẩn bị kỹ lưỡng ở giai đọan tiền kỳ. Tức là ngay vào lúc viết kịch bản và làm casting, chọn diễn viên làm sao cho hợp với từng vai. Một khi đã vượt qua trở ngại này, có thể coi như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Trong trường hợp của Il Divo cũng vậy, các thành viên được chọn kỹ ngay từ ban đầu, ngoại hình hay chất giọng chủ yếu nhắm vào đối tượng yêu chuộng pop ballad, dòng nhạc trữ tình lãng mạn, với phong cách sang trọng lịch lãm (Adult contemporary music).

Tiêu chuẩn hát nhiều thứ tiếng là để nhắm cùng lúc vào nhiều thị trường. Đâu đó, nhà sản xuất Simon Cowell đã có định hướng rất rõ ràng trước khi thành lập ban nhạc để nắm trong tay nhiều lá chủ bài. Sáng kiến của ông thành công một phần vì được cho ra đời đúng thời điểm, vào lúc mà trên thị trường Âu Mỹ đang có một phong trào hưởng ứng các giọng ca đan xen pop với opera. Sớm hơn hay muộn hơn, có lẽ ban nhạc Il Divo sẽ không thành công như mong đợi. 

Sở trường của nhóm Il Divo nằm trong lối hát phối bè. Cách ngắt bài hát ra thành nhiều đoạn cho hợp với từng giọng ca, sử dụng baryton trong các đọan trung trầm, hai giọng ca tenor ở phần điệp khúc cao trào và nhất là ở những đoạn chuyển cung đi từ nốt trầm lên những nốt bay bổng nhất. Nhờ vậy mà cách hát phối bè của nhóm thêm phần uyển chuyển, sắc sảo. Có ý kiến cho rằng với nhóm Il Divo, nhà sản xuất Simon Cowell đã thực hiện một cú tiếp thị ngoạn mục, thành công nhờ biết bắt mạch thị trường một cách tài tình. Nhưng cũng đừng quên rằng thị trường âm nhạc trước hết thuộc vào ngành công nghiệp giải trí. Một nhà sản xuất chịu bỏ vốn và đầu tư thời gian (Simon Cowell mất gần 2 năm để lập ban nhạc) phải tính toán trước hết các mối rủi ro. Nhờ vậy, mà trong trường hợp của nhóm Il Divo, thành công đã không lỗi hẹn.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

Không tìm thấy trang

Nội dung bạn đang cố truy cập không tồn tại hoặc không còn khả dụng.