Vào nội dung chính
Tạp chí việt nam

Biển Đông : Việt Nam có thêm hậu thuẫn trong ASEAN

Phần âm thanh 10:07
Một tầu hải cảnh Trung Quốc bắn vòi rồng vào tầu tuần tra Việt Nam ở Biển Đông, ngày 02/05/2019
Một tầu hải cảnh Trung Quốc bắn vòi rồng vào tầu tuần tra Việt Nam ở Biển Đông, ngày 02/05/2019 REUTERS/Vietnam Marine Guard/Handout via Reuters
Thanh Phương

Trong cuộc họp thượng đỉnh trực tuyến ngày 26/06/2020, do Việt Nam tổ chức với tư cách chủ tịch luân phiên ASEAN, các nước Đông Nam Á đã tỏ lập trường cứng rắn hơn bao giờ hết đối với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông.

Quảng cáo

Trong cuộc họp đó, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc, với vai trò chủ trì hội nghị, đã tuyên bố : « Trong khi toàn thế giới đang phải chống dịch, những hành động vô trách nhiệm và vi phạm luật quốc tế vẫn tiếp tục diễn ra, tác động đến môi trường an ninh và ổn định của khu vực ». Tuy không nêu đích danh, nhưng tuyên bố này rõ ràng là nhắm vào Trung Quốc.

Trong bản tuyên bố chung khi kết thúc Thượng đỉnh ASEAN 36, lãnh đạo các quốc gia trong khu vực đã nêu mối quan ngại về những diễn biến gần đây tại Biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS). Đối với họ, UNCLOS 1982 « là cơ sở để xác định các quyền lợi hàng hải, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp đối với các vùng biển. ». Các lãnh đạo ASEAN một lần nữa khẳng định các bên phải « giải quyết hoà bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 ».

Tuyyên bố lần này của ASEAN vẫn không nêu đích danh Trung Quốc là nước gây ra những sự cố nghiêm trọng gần đây ở Biển Đông : đưa tàu khảo sát đến cản trở các hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam và Malaysia, đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam ở gần quần đảo Hoàng Sa. Nhưng có thể nói là qua tuyên bố nói trên, lãnh đạo các quốc gia trong ASEAN đã thẳng thừng bác bỏ các yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Trung Quốc.

Như vậy, qua cuộc họp ngày 26/06, Việt Nam đã có thêm hậu thuẫn trong ASEAN, nhất là từ Philippines, Malaysia và Indonesia, để đối đầu với Trung Quốc về vấn Biển Đông. Nhưng liệu khối  đoàn kết này có lâu bền không, khi biết rằng cho tới nay ASEAN vẫn nhiều lần bị chia rẽ trên vấn đề này? Trong phần tạp chí hôm nay, mời quý vị nghe bài phỏng vấn nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore.

RFI : Năm nay là năm mà theo lẽ Việt Nam có thể tranh thủ chiếc ghế chủ tịch ASEAN để tìm thêm hậu thuẫn của các nước Đông Nam Á trong cuộc đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông. Nhưng dịch Covid-19 đã tác động như thế nào đến vai trò chủ tịch của Việt Nam.

Lê Hồng Hiệp : Năm nay, rất đáng tiếc là do đại dịch Covid-19, nhiều hoạt động của Việt Nam trong năm chủ tịch ASEAN không được tiến hành suôn sẻ. Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa rồi là hội nghị trực tuyến đầu tiên trong suốt lịch sử 50 năm hình thành của tổ chức này. Việc tổ chức hội nghị trực tuyến như vậy có rất nhiều hạn chế, ví dụ như không thể tổ chức các cuộc gặp song phương bên lề, sự tham gia của các phóng viên để đưa tin cũng hạn chế rất nhiều, cho nên tác động hạn chế hơn rất nhiều so với khi tổ chức hội nghị bình thường.

Tuy nhiên, cũng một điều may mắn là do áp dụng công nghệ, cho nên Việt Nam đã tổ chức thành công thượng đỉnh vừa rồi và đáng kể là hội nghị đã đưa ra được bản tuyên bố chung, tuyên bố Chủ tịch, với nhiều nội dung được cho là phù hợp với lợi ích của Việt Nam, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông.

RFI : Trong tuyên bố chung, các lãnh đạo ASEAN đã khẳng định Công ước LHQ về Luật Biển UNCLOS phải là cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Phải chăng là các nước ASEAN nay có lập trường dứt khoát hơn với Trung Quốc ?

Lê Hồng Hiệp : So sánh các bản tuyên bố chung hay tuyên bố của Chủ tịch qua các hội nghị thượng đỉnh ở các nước khác nhau trong những năm vừa qua, chúng ta thấy luôn luôn có một số đoạn nói về tình hình Biển Đông. Nội dung các tuyên bố này gần giống nhau, chỉ sửa một số câu chữ. So với năm ngoái, bản tuyên bố chung và bản tuyên bố của Chủ tịch có một điểm khác, đó là nhấn mạnh hơn đến vai trò của luật pháp quốc tế, cụ thể là đề cập tới Công ước LHQ về Luật Biển 1982 UNCLOS. Trước đây, ASEAN có nói là phải « phù hợp với luật pháp quốc tế », nhưng cụm từ « luật pháp quốc tế » còn tương đối mơ hồ, chung chung. Năm nay, cụ thể hơn, họ có nhấn mạnh đến vai trò của Công ước 1982 và bất cứ chỗ nào có nhắc đến luật pháp quốc tế thì đều đi kèm với công ước này.

Điều này có một ý nghĩa quan trọng : Lâu nay, các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông là không phù hợp với UNCLOS và bằng việc gắn luật pháp quốc tế với Công ước về Luật Biển năm 1982, ASEAN cũng như Việt Nam đã gián tiếp bác bỏ những yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông, cũng như thể hiện thái độ ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực trong vụ Philippines kiện Trung Quốc.

Đây là một bước tiến, tại vì lâu nay các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng có thái độ không thật sự rõ ràng đối với các phán quyết này. Ở đây chúng ta có thể thấy vai trò quan trọng của Việt Nam trong việc dẫn dắt các nước ASEAN đàm phán để mà có thể có một tuyên bố chung như vậy.

RFI : Hiện nay, ngoài Philippines cũng có tiếng nói mạnh mẽ đối với Trung Quốc, Việt Nam có thể trông chờ vào Malaysia và Indonesia ?

Lê Hồng Hiệp : Từ đầu năm đến tháng 6 vừa rồi, trong khu vực cũng như Biển Đông đã diễn ra một số sự kiện có thể làm thay đổi quan điểm của các nước trong khu vực đối với Trung Quốc, ví dụ như Philippines có sự thay đổi thái độ đối với Trung Quốc, đặc biệt là thông qua hành động ngừng việc chấm dứt hiệp định lực lượng viếng thăm với Hoa Kỳ. Điều này cho thấy chính quyền của tổng thống Duterte có sự điều chỉnh trong mối quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc, theo hướng duy trì quan hệ liên minh với Mỹ, và ngừng hoặc làm chậm lại quá trình điều chỉnh quan hệ với Trung Quốc theo hướng thân thiện hơn.

Trong khi đó, ở Malaysia cũng có sự cố tàu Trung Quốc quấy rối các hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia trên vùng thềm lục địa của họ. Trong trường hợp của Indonesia thì các yêu sách của Trung Quốc với vùng biển gần quần đảo Natuna của Indonesia cũng đã dẫn đến những phản đối của phía Indonesia. Những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian vừa qua đã tạo ra sự nghi ngờ ngày càng lớn của các nước trong khu vực, đặc biệt là Philippines, Malaysia và Indonesia đối với ý đồ của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tất cả những điều này giúp cho Việt Nam dễ dàng hơn trong việc vận động các quốc gia này ủng hộ một lập trường thống nhất hơn, cứng rắn hơn trong ASEAN về vấn đề Biển Đông nói chung, cũng như về Trung Quốc nói riêng. Có lẻ đây là yếu tố quan trọng góp phần giúp cho hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa rồi thông qua được một tuyên bố chung có vẻ như cứng rắn hơn trên vấn đề Biển Đông cũng như đối với Trung Quốc.

RFI : Trong ASEAN vẫn có những bất đồng về Biển Đông, đặc biệt là từ những nước được xem là thân thiện, hoặc gần như là đồng minh của Trung Quốc, như Cam Bốt và Lào. Điều đó có thể cản trở ASEAN có một lập trường dứt khoát hơn đối với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông trong tương lai?

Lê Hồng Hiệp : Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải cân nhắc 3 yếu tố. Thứ nhất là các hành động tiếp theo của Trung Quốc trong nửa cuối năm nay hay trong một, hai năm tới. Nếu như Trung Quốc tiếp tục có những hành động hung hăn, lấn lướt, gây những bức xúc, phản đối của các nước trong khu vực Biển Đông, như Philippines, Indonesia, Malaysia, thì xu thế cùng phối hợp để có lập trường thống nhất cứng rắn với Trung Quốc sẽ ngày càng được củng cố. Như vậy, tiếng nói của những nước như Cam Bốt và Lào sẽ bị yếu đi, bị kềm chế rất nhiều.

Thứ hai, bản thân Trung Quốc sẽ có những hành động như thế nào đối với những nước mà họ muốn tăng cường quan hệ hay gây sức ép để giúp Trung Quốc gây chia rẽ ASEAN. Trong thời gian vừa qua, Cam Bốt và Lào đã được hưởng lợi rất nhiều từ những hỗ trợ của Trung Quốc, chẳng hạn như trong việc vay vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng trong thời gian qua, Trung Quốc cũng đã gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, về chính sách đối ngoại…Liệu Trung Quốc có thể tiếp tục duy trì những sự hỗ trợ như vậy cho những nước như Cam Bốt và Lào hay không, để qua đó duy trì ảnh hưởng đối với ASEAN thông qua hai nước này ? Chúng ta còn phải chờ xem.

Thứ ba là đó là ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với khu vực, trong bối cảnh mà Trung Quốc và Hoa Kỳ đang gia tăng cạnh tranh chiến lược và đều coi Đông Nam Á là địa bàn cạnh tranh ảnh hưởng rất quan trọng. Chính vì vậy mà trong thời gian, Hoa Kỳ đã có những hành động để đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực này. Nếu trong thời gian tới, cạnh tranh Mỹ-Trung tiếp tục như vậy, thì có nhiều khả năng là Hoa Kỳ gây tác động hoặc gây sức ép lên các nước trong khu vực, đặc biệt là Cam Bốt và Lào, để những nước này có một chính sách cân bằng hơn trong quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc. Nếu như sức ép của Hoa Kỳ thành công thì có lẻ là ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với ASEAN thông qua Cam Bốt và Lào cũng sẽ bị giảm xuống.

Tuy nhiên, đó là những yếu tố mà chúng ta cần theo dõi trong tương lai. Trước mắt, tôi tin là Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên trì « chia để trị », tức là sẽ cố gắng gây tác động lên các mắt xích yếu Cam Bốt và Lào trong ASEAN để thông qua hai mắt xích này can thiệp vào công việc nội bộ của ASEAN, đặc biệt là trong việc định hình quan điểm, lập trường của khối này đối với vấn đề Biển Đông.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

Không tìm thấy trang

Nội dung bạn đang cố truy cập không tồn tại hoặc không còn khả dụng.