VIỆT NAM – NHẬT BẢN

Quan hệ Việt-Nhật và nguyên tắc « kẻ thù của kẻ thù là bạn của ta »

Thủ tướng Nhật Yoshihide Suga (thứ hai từ trái qua) và đồng nhiệm Việt Nam Nguyên Xuân Phúc trong chuyến thăm Việt Nam, Hà Nội, ngày 19/10/2020.
Thủ tướng Nhật Yoshihide Suga (thứ hai từ trái qua) và đồng nhiệm Việt Nam Nguyên Xuân Phúc trong chuyến thăm Việt Nam, Hà Nội, ngày 19/10/2020. AP - Minh Hoang

Tân thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga ngày 18/10/2020 đến Hà Nội, mở đầu vòng công du nước ngoài đầu tiên tại Đông Nam Á. Ông Suga Yoshihide là lãnh đạo nước ngoài đầu tiên của một trong những nền kinh tế lớn đến thăm Việt Nam.

Quảng cáo

Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản có từ bao giờ và đã đạt đến mức nào ? Đâu là những thách thức cho mối quan hệ song phương này ? Đến thăm Việt Nam và Indonesia, phải chăng Trung Quốc là đích ngắm chính của Nhật Bản ? Chuyên gia Đông Nam Á, David Camroux, trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po, giáo sư thỉnh giảng trường đại học Quốc gia Hà Nội, trả lời các câu hỏi của RFI Tiếng Việt.

***

RFI Tiếng Việt : Thưa giáo sư, trước hết ông có thể nhắc lại sơ qua quan hệ Việt Nam và Nhật Bản đã được hình thành như thế nào ?

GS. David Camroux : Cần phải đặt mối quan hệ trong một quá trình lịch sử lâu dài. Những mối liên hệ đầu tiên được hình thành từ năm 1905, thời kỳ chiến tranh Nga – Nhật. Thất bại của một đế chế châu Âu trước một cường quốc châu Á đầu tiên đã mang lại nhiều cảm hứng cho các nhà nho có tư tưởng tiến bộ ở Việt Nam lúc bấy giờ.

Sự việc đầu tiên là ông giáo nho Phan Châu Trinh đã cho mở một trường học tự do đầu tiên, Đông Kinh Nghĩa thục ở Bắc Kỳ vào khoảng năm 1906 dưới thời thực dân Pháp. Đây được xem như là trường dạy Tây học dành cho giới trẻ Việt Nam, dựa theo mô hình của trường Khánh Ứng Nghĩa thục, bây giờ là đại học Keio ở Tokyo. Cảm hứng này xuất hiện trong những làn sóng chống chủ nghĩa thực dân tại những nước thuộc địa châu Á.

Giai đoạn thứ hai là trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến. Việt Nam bị Nhật Bản chiếm đóng trong vòng hai năm. Nhưng trong suốt giai đoạn này, chính quyền thực dân Pháp thời Vichy vẫn cầm quyền. Khác với những nước Đông Nam Á khác, giai đoạn bị chiếm đóng này không để lại nhiều di hại sâu sắc. Ngược lại, sự hiện diện của người Nhật còn được xem như là một trong những yếu tố thúc đẩy nhanh hơn nữa cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam sau này.

Thời kỳ thứ ba bắt đầu từ những năm 1980. Thủ tướng Nhật Bản lúc bấy giờ ông Yasuhiro Nakasone phát động làn sóng đầu tư tại Đông Nam Á. Tuy tại Việt Nam chưa có làn sóng này do các lệnh cấm vận, nhưng những sự việc này dẫn đến tình hình hiện nay.

Bởi vì đến năm 2019, Việt Nam qua mặt Thái Lan trở thành điểm đến đầu tư hàng đầu của Nhật Bản tại vùng Đông Nam Á. Làn sóng đầu tư này còn được xúc tiến nhanh hơn nữa trong giai đoạn đối đầu Mỹ - Trung hiện nay. Trong bối cảnh này, Việt Nam được hưởng lợi rất nhiều trước làn sóng di dời nhà xưởng từ Trung Quốc sang các nước khác của nhiều nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc…

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, thủ tướng Suga đi theo bước chân người tiền nhiệm Shinzo Abe. Trong nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên, 2006-2007, ông Abe đã ký kết một thỏa thuận đối tác chiến lược với Việt Nam. Khi trở lại cầm quyền năm 2012, Việt Nam cũng nằm trong số các quốc gia Đông Nam Á mà ông Abe đến thăm. Có thể nói là tân thủ tướng Nhật Bản cũng đang đi theo cùng một đường lối với người tiền nhiệm khi ưu tiên quan hệ với Việt Nam.

Đâu là những thách thức cho mối quan hệ Nhật – Việt ? Hà Nội và Tokyo có lợi ích gì khi tăng cường các mối quan hệ hợp tác, nhất là trong lĩnh vực quân sự ?

GS. David Camroux : Thử thách đặt ra cho cả hai nước là đều có liên quan đến Trung Quốc. Đó chính là những nguyên tắc cơ bản của các mối quan hệ quốc tế hiện nay như những gì đang diễn ra với Bộ Tứ. Nguyên tắc đầu tiên là « Kẻ thù của kẻ thù là bạn của ta ». Thế nên, việc tăng cường các mối quan hệ mang lại nhiều lợi ích hội tụ vừa cả cho Việt Nam lẫn Nhật Bản.

Đầu tiên hết là trong lĩnh vực kinh tế. Việt Nam mong muốn đa dạng hóa nguồn đầu tư nước ngoài. Thứ hai, Việt Nam cũng muốn củng cố vị thế điểm xuất khẩu trung chuyển thay thế Trung Quốc. Chính vì điểm này Việt Nam rất cần đến các khoản đầu tư của Nhật Bản, cũng như là châu Âu, Hàn Quốc, Hoa Kỳ…

Kế đến là những lợi ích chiến lược. Vấn đề thật sự đặt ra cho vùng Đông Nam Á là khả năng xảy ra xung đột ở Biển Đông. Trong trường hợp này, Việt Nam và Nhật Bản là hai nước trên tuyến đầu do có những căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc cũng như là giữa Trung Quốc với Việt Nam.

Hơn nữa, Bắc Kinh ngày càng có thái độ hung hăng, thậm chí là khiêu khích nữa trong các mối quan hệ với các nước láng giềng. Do vậy, việc thành lập một mặt trận chung chống Trung Quốc tại khu vực này là một điều có lợi cho cả Việt Nam và Nhật Bản.

Thưa ông, việc chọn Việt Nam và Indonesia là những điểm đến đầu tiên trong chuyến xuất ngoại lần đầu của ông Suga, một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của ASEAN trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương do ông Shinzo Abe vạch ra ?

GS. David Camroux : Hoàn toàn đúng vậy. Cả hai nước này là hai nền kinh tế quan trọng với Nhật Bản. Cũng giống như Việt Nam, Indonesia cũng được lợi nhiều từ các nguồn đầu tư Nhật Bản. Chính phủ Indonesia cũng có những chính sách giống như Việt Nam khi mong muốn cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc và Nhật Bản cũng như là phương Tây. Có thể nói là Hà Nội và Jakarta gần như có cùng một quan điểm về Trung Quốc.

Tôi tin rằng có một sự tiếp nối trong cách tiếp cận của ông Suga về chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương. Trong chiến lược này, Indonesia – quốc gia có tầm quan trọng hàng đầu tại Đông Nam Á, có một vị thế không thể bỏ qua để có thể gây ảnh hưởng đối với toàn khối ASEAN.

Chính Indonesia là quốc gia đề xuất tầm nhìn Ấn Độ - Thái Bình Dương cho ASEAN. Do vậy lợi thế của Nhật Bản ở đây là tầm nhìn này của ASEAN gần như hoàn toàn phù hợp với tầm nhìn của Nhật Bản cũng như là của Việt Nam, vốn dĩ có những mối quan hệ hợp tác với các nước đối tác của Bộ Tứ - tức Diễn đàn an ninh không chính thức giữa ngoại trưởng bốn nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc.

Đúng là cho tới lúc này, Indonesia chưa bị tác động gì nhiều trước các hành động gây hấn của Trung Quốc. Dù vậy, người ta cũng thấy là tại quần đảo Natuna của Indonesia, các ngư dân Trung Quốc và tầu hải cảnh Trung Quốc cũng bắt đầu gây ra những căng thẳng như là những gì họ đã làm với Việt Nam.

Điều nghịch lý ở đây là người xúc tiến tích cực để hình thành nên một mặt trận chung chống Trung Quốc chính là ông Tập Cận Bình. Chính cách hành xử mang nặng tư tưởng chủ nghĩa dân tộc của ông đang giúp định hình, tuy chưa phải là một liên minh, mà là một thỏa thuận giữa các nước láng giềng lập một mặt trận chung nhằm chống lại ông khổng lồ phương Bắc hung hăng.

RFI Tiếng Việt xin cảm ơn giáo sư David Camroux.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí