Vào nội dung chính
Tạp chí khoa học

Ngăn ngừa nạn cháy rừng ở Việt Nam : Một số giải pháp dài hạn

Phần âm thanh 14:02
Rừng quốc gia Hoàng Liên bị cháy phơi bày nhiều vụ khai thác gỗ trộm. Ảnh do nhà báo Phạm Ngọc Dương chụp vào đầu tháng ba 2012, ngay sau vụ cháy.
Rừng quốc gia Hoàng Liên bị cháy phơi bày nhiều vụ khai thác gỗ trộm. Ảnh do nhà báo Phạm Ngọc Dương chụp vào đầu tháng ba 2012, ngay sau vụ cháy.
Trọng Thành
47 phút

Ở Việt Nam, mùa nóng năm nay đến sớm. Theo dự báo khí tượng, so sánh với thời điểm cuối tháng 4, đầu tháng 5 của các năm trước, đợt nắng nóng năm nay đang lập kỷ lục ở nhiều nơi. Nhiệt độ cao cùng với độ ẩm thấp đẩy nguy cơ cháy rừng ở nhiều khu vực lên mức rất cao, đặc biệt là ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Khả năng phòng chống cháy rừng ở Việt Nam ra sao, đâu là những nguyên nhân sâu xa của nạn cháy rừng và các giải pháp cho vấn nạn này ?

Quảng cáo

Tạp chí Khoa học của RFI hôm nay muốn chuyển tới quý vị tiếng nói của các chuyên gia, nhà quản lý và những người gắn bó với rừng để góp phần mang lại một số giải đáp cho các câu hỏi trên.

Khách mời của tạp chí là giáo sư Phạm Bình Quyền (Viện Môi trường và phát triển bền vững), tiến sĩ Đoàn Hoài Nam, Cục phó cục Kiểm lâm, lương y Trần Ngọc Lâm, một nhân chứng ở Lào Cai, giáo sư Lê Trọng Cúc – chuyên gia về các hệ sinh thái nhân văn miền núi, và tiến sĩ Lê Đức Thịnh (Viện nghiên cứu chiến lược và phát triển nông thôn).

Gs Phạm Bình Quyền, Ts Đoàn Hoài Nam, thầy Trần Ngọc Lâm, một nhân chứng, Gs Lê Trọng Cúc và Ts Lê Đức Thịnh

 

 

  

 

 

 Chỉ riêng trong 10 ngày cuối tháng 4, đầu tháng 5, theo thống kê của Cục Kiểm lâm Bộ Nông nghiệp, đã có 250 ha rừng cháy tại Việt Nam. Thiệt hại nặng là vụ cháy rừng phía nam đèo Hải Vân. Đấy là chưa kể vụ cháy đầu tháng Ba, tại rừng quốc gia Hoàng Liên, Sa Pa – Lào Cai, trên độ cao gần 2.000 mét, kéo dài trong gần một tuần lễ, thiệt hạ ít nhất gần 100 ha.

Theo cơ quan khí tượng, bên cạnh nguyên nhân trực tiếp là áp thấp nóng phía tây kết hợp với gió Lào, nhiệt độ cao năm nay còn là hệ quả của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, cộng thêm việc 2012 là năm đổi pha, sau La Nina (pha lạnh) là El Nino (pha nóng). 

Trong hiện tại, về  cơ bản Việt Nam vẫn sử dụng các phương tiện thô sơ vào việc chống cháy. Theo các cán bộ quản lý ngành lâm nghiệp, việc dự báo cháy rừng bằng vệ tinh viễn thám mới bước đầu được ứng dụng, với độ phân giải khoảng 1 km². Hạn chế về nhân lực và phương tiện của kiểm lâm khiến cho lực lượng này khó lòng đảm nhiệm tốt việc phòng cháy và dự báo cháy. Về cơ bản, tại Việt Nam việc phòng chống cháy phải dựa rất nhiều vào các cộng đồng dân cư ở địa phương, các trận cháy lớn phải có sự hỗ trợ của quân đội.

Theo con số chính thức, diện tích cháy rừng có vẻ giảm xuống

Nhìn trên tổng thể theo con số chính thức, có vẻ như diện tích cháy rừng có chiều hướng giảm xuống, sau đây là các nhận xét của giáo sư Phạm Bình Quyền.

Phạm Bình Quyền : “Ở Việt Nam, việc phòng chống cháy rừng rất được quan tâm. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Tổng cục Lâm nghiệp rất quan tâm và có những biện pháp, như phát động nhân dân, quần chúng tham gia, rồi các cơ quan chức năng rất quan tâm chuyện này. Với dự báo thời tiết đang nóng lên, rừng ở Việt Nam chủ yếu là rừng thứ sinh, nên dễ bị cháy, thành thử quan tâm như vậy là rất đúng mức.

Từ đầu năm đến nay, thực chất có một số vụ cháy, như Hoàng Liên Sơn, phải mất mấy ngày mới dập được, nhưng đến vụ ở Bạch Mã nam đèo Hải Vân mới đây, thì rút kinh nghiệm, nên dù đám cháy rất to, nhưng nhân dân và các cơ quan chức năng dập rất nhanh.

Tuy rằng thời tiết có thể nóng lên, rồi biến đổi khí hậu, nhưng với sự quan tâm đặc biệt như thế, thì tôi nghĩ rằng, việc phòng chống cháy rừng ở Việt Nam, tất nhiên là sẽ được tốt hơn, nhưng điều ấy không tránh khỏi vụ cháy này, vụ cháy kia, nhưng chắc rằng cháy lớn thì không có.”

Về các con số chính thức diện tích rừng bị cháy, hay diện tích rừng trồng mới, hiện chúng tôi không có các số liệu độc lập để kiểm chứng. Tuy nhiên, theo một số người dân địa phương, còn có những vụ cháy rừng bị bỏ qua không được thống kê. Bên cạnh đó, là diện tích rừng có thể tăng lên, nhưng một số nhà khoa học cho rằng, chất lượng rừng lại ngày càng suy giảm. Đây cũng là một nguyên nhân sâu xa của nạn cháy rừng.

Ông Đoàn Hoài Nam, Cục phó Cục Kiểm lâm, cho biết một số nguyên nhân chính của nạn cháy rừng và phương hướng giải quyết.

Đoàn Hoài Nam : “Như chúng tôi đã thống kê, trong vòng mười năm qua, thì có từ 55% đến hơn 60% là do người dân canh tác nương rẫy và đốt dọn đồng ruộng mà gây ra cháy rừng. Bây giờ mình phải hướng dẫn cho người dân canh tác đồng ruộng cho tốt, và nâng cao đời sống cho người dân để họ bớt thực hiện các hoạt động canh tác ở gần rừng hoặc ở trong rừng để giảm nguy cơ về cháy.

Còn về các giải pháp khác, thì hiện nay, chúng tôi đang áp dụng việc tuyên truyền cho người dân để họ ý thức được tác hại lớn của cháy rừng đến môi trường. Cái này người dân Việt Nam cũng đã nhận thức được. Có nhiều rừng được giao cho cộng đồng và được họ bảo vệ rất tốt. Họ nhận ra được xu hướng là về lâu dài, rừng sẽ được giao cho cộng đồng, cho người dân, để rừng có chủ thực sự, để được bảo vệ tốt hơn.”

Trồng thảo quả trong rừng đặc dụng – hiểm họa lớn

Bên cạnh các khu rừng ven biển ở miền cực nam nằm trên các thảm than bùn, hay các vùng rừng Tây Nguyên với tập quán đốt rừng làm nương rẫy, vùng rừng núi phía Tây Bắc cũng là một khu vực bị thần lửa thường xuyên đe dọa. Trong mấy năm gần đây, rừng quốc gia Hoàng Liên thường xuyên bị cháy. Năm 2010, ít nhất 1.000 ha rừng Hoàng Liên bị thiêu rụi. Lương y Trần Ngọc Lâm, một người gắn bó với rừng núi Tây Bắc, cho biết các nhận xét của ông về nạn cháy rừng, mà theo ông đang có chiều hướng gia tăng. Ông tỏ ra rất bi quan.

Trần Ngọc Lâm : “Ở trên này lúc nào nguy cơ ấy cũng tiềm ẩn. Thứ nhất là dân cư làm nương rẫy vòng quanh dãy núi này. Việc đốt nương rẫy không được kiểm soát. Chính quyền địa phương bao giờ cũng báo cáo là đã kiểm soát, nhưng thực ra là, cán bộ có bao giờ vào rừng đâu. Tôi đi hàng chục năm nay trong rừng, chỉ gặp dân trong đó thôi. Lực lượng kiểm lâm thì thưa thớt. Hàng mấy chục ngàn hecta mới có một trăm kiểm lâm thì làm sao mà giăng ra được hết.

Cho nên nguy cơ cháy rừng là hiện hữu thôi. Năm nào mà chẳng cháy. Cháy nhiều hay cháy ít thôi, cháy to hay cháy nhỏ thôi. Cháy có được không bố hay không công bố thôi. Chứ năm nào cũng cháy cả.

Nguyên nhân thứ hai nữa là việc mình cho trồng thảo quả tràn lan. Dân chúng trồng thảo quả, thì họ phải đi ngang dọc trong rừng. Về thảo quả, từ trước đến giờ tôi vẫn nói là cây phá rừng, nhưng nói chung chẳng ai nghiên cứu kỹ nó phá như thế nào. Mà chỉ thấy là bán được một cân 100 nghìn, thì ông nào cũng tưởng là kinh tế tốt. Nhưng thu được 100 nghìn đồng thì phá không biết bao nhiêu rừng, mới được như thế. Các cấp chính quyền có ai để ý đến chuyện đó đâu. Chỉ nhìn thấy thu nhập như thế, một gia đình trồng mấy hecta, thu mấy chục triệu thôi. Thế nên rừng Hoàng Liên Sơn bị tàn phá.

RFI : Thưa thầy, cây thảo quả có nguy cơ như thế nào với việc cháy rừng ?

Lò sấy thảo quả trong rừng quốc gia Hoàng Liên Sơn (ảnh Phạm Ngọc Dương)
Lò sấy thảo quả trong rừng quốc gia Hoàng Liên Sơn (ảnh Phạm Ngọc Dương)

Trần Ngọc Lâm : Bởi vì khi trồng thảo quả, thì dân phải phát rừng trồng thảo quả và họ ở trong rừng, những mùa như thế này, họ đi phát nương phát cỏ để trồng thảo quả. Việc họ nấu ăn, săn bắt chuột để làm thực phẩm, luôn là những nguy cơ cháy rừng.

Cây thảo quả là nguyên nhân gián tiếp gây cháy rừng. Còn về mặt trực tiếp, thì phải phá rừng mới trồng được thảo quả. Theo một số tuyên truyền, thì thảo quả được trồng dưới tán rừng, nhưng thực ra là phải phá hết cây con, chỉ giữ lại một vài cây to. Những khu rừng như thế, sau này không tái sinh được nữa. Còn đến lúc sấy, họ phải ngả cây xuống để sấy, nên lại thêm một nguy cơ cháy rừng nữa.

Muốn giải quyết được việc này, phải là các cấp chính quyền, phải các nhà khoa học nghiên cứu cẩn thận, nhưng có ai nghiên cứu cái này đâu. Chỉ nói là chữa (khắc phục) chung chung thôi, chứ có ai để ý đến chuyện đấy.

RFI : Trong thời gian thầy ở đây 10 năm, thầy thấy nạn cháy rừng có xu hướng tăng lên hay giảm xuống ?

Trần Ngọc Lâm : Chỉ có tăng, chứ không có giảm đâu. Sức ép dân cư, quản lý thì vẫn thế, giảm làm sao được. Tôi ở đây hơn 10 năm rồi, tôi thấy chỉ có tăng thôi. Cuối những năm 1990, ở trên đấy cháy rừng không đáng kể, nhưng bây giờ, càng ngày càng cháy lớn. Có bao giờ phải huy động hàng tỉnh cứu chữa như vừa rồi đâu.

Nói chung, càng ngày nguy cơ cháy càng lớn, việc tàn phá cũng càng lớn.”

Phát triển cây thuốc địa phương – một giải pháp cho hệ sinh thái canh tác bền vững

Về việc canh tác thảo quả trong rừng quốc gia Hoàng Liên, một trong những nguyên nhân có thể gây ra cháy rừng, bên cạnh việc đốt rừng làm nương rẫy, tiến sĩ Lê Đức Thịnh - Viện chính sách và chiến lược phát triển nông thôn - có nhận xét.

Lê Đức Thịnh : “Thực sự là việc đưa các cây trồng vào trong rừng, việc xác lập hệ thống canh tác bền vững an toàn đúng là có nhiều vấn đề. Các công tác nghiên cứu, đánh giá còn quá yếu. Ví dụ như, ở các vùng miền núi phía bắc, đến bây giờ nói đến thảo quả, nhưng còn hàng chục loại cây trồng khác nhau được đưa vào nhưng không hợp với cái sinh thái ở đấy. Ví dụ như, có thời gian người ta đưa táo Israel, rồi là cao su như vừa rồi, … Rõ ràng là việc phát triển thảo quả tràn lan, ở một số vùng gây ra những bất cập về mặt sinh thái.”

Để khắc phục những bất cập của việc trồng thảo quả ồ ạt, mang lại lợi ích kinh tế khá cao, nhưng có khả năng gia tăng nguy cơ cháy rừng, và làm hại đất đai và hệ sinh thái, một người gắn bó với rừng Hoàng Liên cho biết ý kiến.

Nhân chứng ở Lào Cai : “Bây giờ chỉ cần đưa vào những cái cây có giá trị kinh tế thấp hơn hoặc ngang bằng, thậm chí cao hơn cây thảo quả, mà lại không ảnh hưởng đến tài nguyên rừng. Đưa vào các cây chỉ sống dưới tán rừng, chứ không phải đến mức chặt hết các cây sống cạnh tranh với nó đi, ví dụ như những loại nấm, hay những loại sâm, … Sapa mà một rừng thuốc, rất nhiều cây có giá trị. Chỉ như thế thì dần dần họ thay đổi được ý thức của họ, mà chuyển đổi sang cây khác. Chứ còn cứ để cây thảo quả sống cũng nguy hiểm !”.

Việt Nam có dự án thành lập Vườn cây thuốc quốc gia trên núi Yên Tử (ảnh Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN)
Việt Nam có dự án thành lập Vườn cây thuốc quốc gia trên núi Yên Tử (ảnh Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN)

Cung cấp dịch vụ và chú ý đến đời sống tinh thần của người vùng cao

Nạn đốt rừng làm nương rẫy, dù đã bị phê phán, thậm chí cấm đoán trong hàng chục năm, đã không dễ dàng biến mất, bởi tập quán này đã gắn liền với các điều kiện sống và trình độ kinh tế của các cộng đồng. Giáo sư Lê Trọng Cúc, một nhà nghiên cứu chuyên về các hệ sinh thái nhân văn miền núi từ 3 thập kỷ nay, cho biết, cho đến nay tại Việt Nam, “hầu như không có một cơ sở nghiên cứu chính thống nào cho miền núi, không có một chương trình nghiên cứu cơ bản, dài hạn nào cho miền núi có tính hệ thống”. Theo giáo sư Lê Trọng Cúc, để có thể thay đổi lối làm ăn canh tác ngắn hạn này, cần phải có những hỗ trợ lớn đối với những người dân ở vùng nông thôn miền núi.

Lê Trọng Cúc : “Về lý thuyết, phát triển bền vững gồm ba mặt. Thứ nhất là tăng trưởng kinh tế, thứ hai là công bằng xã hội, trong đó có bình đẳng giới, bình đẳng thế hệ. Tức là thế hệ trước khi khai thác không làm tổn hại tài nguyên cho thế hệ sau. Và cái thứ ba là môi trường. Ba cái đó lúc nào cũng đi với nhau. Theo tôi, cốt lõi đầu tiên là làm thế nào để người dân có ý thức trong vấn đề này.

Thứ hai là, các tổ chức phi chính phủ mang lại các điều kiện để giúp đỡ các nhóm dân tộc ấy, nhất là những dân tộc ở vùng sâu, vùng xa. Để có được ý thức, thì điều đầu tiên là phải tạo điều kiện cho họ, để họ có thể nhận thức được. Có một số tổ chức quốc tế bảo rằng là, chỉ giúp họ ‘chiếc cần câu’ thôi – tức là tạo điều kiện kỹ thuật để họ làm. Nhưng thực chất là, để có được kỹ thuật, trước hết họ phải học, phải tiếp thu các thông tin mới. Như thế thì, phải cho họ cả ‘xâu cá’. Tức là có cái ăn, thì mới đi học được.

Ở Việt Nam, về mặt vĩ mô, thì vẫn nói là đã vượt qua giai đoạn bảo đảm an ninh lương thực, quốc gia xuất khẩu gạo mà, nhưng thực tế là, ở các dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, họ vẫn bị đứt bữa nhiều lắm.

Cũng phải tìm nguyên nhân là, tại sao họ nghèo. Họ nghèo không phải chỉ vì không đủ vốn. Đúng là có thiếu vốn, nhưng cũng có người cho vốn vào mà chẳng biết làm gì cả. Cho nên phải tăng cường thông tin, rồi tất cả mọi thứ. Về nguyên nhân nghèo thì có nhiều cái. Nghèo không chỉ có thu nhập. Nghèo về tinh thần mới quan trọng. Có những lúc họ có đầy tiền. Người H’mong bán thảo quả, có lúc họ có 500 - 700 triệu, nhưng họ không biết làm gì. Không có các dịch vụ nào để giúp cho họ. Họ nhìn vào TV, thì thấy Hà Nội sống như vậy, nhưng họ không có điều kiện sống như vậy, thì họ thấy buồn chán, mất lòng tin, rồi họ đi uống rượu, rồi gây ra các tệ nạn xã hội.

Tôi nghĩ là, một điều rất quan trọng, mà trong các chỉ tiêu nói về nghèo đói, không được quan tâm lắm. Tức là vấn đề tinh thần. Muốn có cái đó phải có các dịch vụ nữa, như internet, y tế, văn hóa, giao thông vận tải …”

Đất nông lâm trường cũ – một diện tích rừng rất lớn không “thực sự” có chủ

Bên cạnh vấn đề thay đổi hệ canh tác trên đất rừng ở các vùng cao chủ yếu là nơi cư trú của các cộng đồng sắc tộc thiểu số, thì ở nhiều nơi khác, hiện tượng đất đai lâm nghiệp thiếu người có trách nhiệm quản lý thực sự, cũng là một nguyên nhân sâu xa dẫn đến nạn cháy rừng. Đây là điều mà tiến sĩ Lê Đức Thịnh ghi nhận.

Lê Đức Thịnh : “Chuyện cháy rừng liên quan đến việc quản lý đất rừng hiện nay, nhất là rừng sản xuất. Nói tóm lại, quá trình, tiến trình cải cách đất rừng dẫn đến một số diện tích rất lớn hiện nay không thuộc về ai cả. Về danh nghĩa, thì hoặc là thuộc về nông lâm trường, hoặc là thuộc về các ủy ban nhân dân, nhưng trên thực tế loại đất này không có ‘chủ’. Đất này không có chủ ‘đích thực’ thôi, nhưng nếu động đến một cái là, hết người nọ, người kia ra nhận. Về mặt giấy tờ không có chủ (quản lý) ‘đích thực’, và thực sự là người ta khai thác nó một cách không có trách nhiệm đối với một diện tích rất lớn”.

Về vấn đề này, ông Đoàn Hoài Nam cho biết thêm :

Đoàn Hoài Nam : “Cái đất này là do, trước đây, để tăng cường hiệu quả của việc sử dụng đất, chính phủ có rà soát các nông lâm trường quốc doanh, các diện tích mà các nông lâm trường quốc doanh không có khả năng quản lý bảo vệ, thì thu hồi lại, và chuyển giao cho cộng đồng và người dân. Do là trong quá trình đấy, khi thu hồi lại, đáng nhẽ phải làm ngay phương án để giao, nhưng các đơn vị chức năng làm chậm, nên tạm giao cho ủy ban nhân dân xã, huyện quản lý. Hiện nay có khoảng hơn 2 triệu ha (*) do chính quyền cấp xã quản lý. Đợt này, trong chỉ đạo của chính phủ, cũng như tham mưu của Bộ Nông nghiệp chúng tôi, sẽ tăng cường công tác ấy, sẽ giao cho dân và cộng đồng.

Đất này không phải là ‘vô chủ’, nhưng do chính quyền cấp xã quản lý, nhưng về kinh phí cho công tác bảo vệ rất hạn chế, cho nên, nhiều khi họ không đủ các nguồn lực. Nên nhiều khi là như anh nói là ‘vô chủ’, nhưng thực chất là không phải. Chính là vì họ không đủ nguồn lực để bảo vệ diện tích này, nên nhiều khi diện tích đất này bị bỏ rơi”.
 

***

Cháy rừng là một hiểm họa lớn đối với đời sống con người, đối với môi trường sinh thái và kinh tế. Ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý và nhân chứng tại chỗ, trong tạp chí hôm nay, giúp cho chúng ta hiểu rõ thêm nhiều điều. Theo chúng tôi biết, hiện tại ở Việt Nam, gần như vắng mặt các nghiên cứu khoa học cơ bản soi sáng hiện thực này, đặc biệt là không có các nghiên cứu chỉ ra các giải pháp dài hạn cho nạn cháy rừng.

Trước mắt, hai điểm cốt yếu được nhiều người nhấn mạnh như là đầu mối để hạn chế nạn cháy rừng về lâu dài, đó là việc bảo vệ rừng nguyên sinh hoặc rừng tái sinh tự nhiên, có độ ẩm cao, để tăng khả năng tự hạn chế cháy của rừng và việc giao đất rừng cho những người thực sự có trách nhiệm. Thách thức lớn đặt ra là làm thế nào có thể xây dựng được các hệ canh tác sinh thái bền vững và có hiệu quả kinh tế, một hệ thống luật pháp và cơ chế kiểm soát công bằng và phù hợp đối với đất rừng. 

RFI xin chân thành cảm ơn các vị khách mời đã dành thời gian cho tạp chí hôm nay.

 

(*) Theo tiến sĩ Tô Xuân Phúc, tổ chức Forest Trends (Hoa Kỳ), diện tích rừng do cấp xã quản lý là khoảng 2,4 triệu ha. Như vậy, diện tích rừng này chiếm gần 1/5 tổng diện tích rừng ở Việt Nam và xấp xỉ 7% diện tích quốc gia.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

Không tìm thấy trang

Nội dung bạn đang cố truy cập không tồn tại hoặc không còn khả dụng.